CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ ĐÃI NGỘ TÀI CHÍNH CHO NGƯỜI LAO ĐỘNG TRONG DOANH NGHIỆP 1. Các khái niệm cơ bản 1. Đãi ngộ nhân lực Có thể nói đãi ngộ nhân lực là một trong các nội dung rất quan trọng của công tác quản trị nhân lực. Đãi ngộ là một động từ chỉ các hành động của đối tượng này tới một đối tượng nào đó được hưởng quyền lợi tương xứng với sự đóng góp của họ.
Một cách đơn giản nhất có thể hiểu đãi ngộ bao gồm các hành động như: cư xử, đối đãi, thái độ của đối tượng được hưởng lợi ích tới đối tượng tạo ra lợi ích. Như vậy, đãi ngộ nhân lực bao gồm hàng loạt các hành động của nhà quản trị đối với NLĐ mà các hành động đó tạo ra quyền lợi và lợi ích cho NLĐ. Các lợi ích đó không chỉ là trả công, trả lương mà còn liên quan đến cả quá trình làm việc của NLĐ, thậm chí cả khi họ đã thôi làm việc. Theo từ điển Tiếng Việt, “Đãi ngộ là cho hưởng các quyền lợi tương xứng với đóng góp”.
Với cách tiếp cận này, trong quan hệ lao động giữa NLĐ và NSDLĐ đó chính là việc NSDLĐ thực hiện các chính sách đảm bảo quyền lợi cho NLĐ dựa trên mức độ đóng góp của NLĐ đối với DN. Các quyền lợi mà NLĐ được hưởng bao gồm có các quyền lợi về mặt vật chất và các quyền lợi về mặt tinh thần hay đó chính là các lợi ích vật chất và các lợi ích tinh thần. Các lợi ích vật chất và các lợi ích tinh thần mà NLĐ được hưởng phải phù hợp và tương xứng với mức độ đóng góp của họ cho DN. Nó thể hiện được lợi ích của cả hai bên trong mối quan hệ lao động.
9 Bên cạnh thuật ngữ đãi ngộ, trong quản trị nhân lực còn sử dụng thuật ngữ “thù lao”. Thù lao là trả công cho NLĐ (thường bằng tiền) để bù đắp lại công sức lao động đã bỏ ra. Như vậy, trong quan hệ mua bán sức lao động giữa NLĐ và NSDLĐ, hai thuật ngữ “đãi ngộ” và “thù lao” đôi khi được sử dụng như nhau. Tuy nhiên trong từng nghiên cứu, theo các cách tiếp cận có thể có sự khác nhau của hai thuật ngữ này.
Trong cùng nghiên cứu của mình với cộng sự, Hoàng Văn Hải và Vũ Thùy Dương đã nêu trong giáo trình Quản trị nhân lực (2009) – trường Đại học Thương Mại về tầm quan trọng, đến các hình thức và cuối cùng là công tác tổ chức đãi ngộ nhân lực và đãi ngộ tài chính cũng như phi tài chính. Đãi ngộ tài chính được thực hiện qua nhiều công cụ như lương, thưởng, trợ cấp, phụ cấp…Đãi ngộ phi tài chính nói chung được thực hiện thông qua đãi ngộ công việc và đãi ngộ thông qua môi trường làm việc với các hoạt động cụ thể như : niềm vui trong cuộc sống, sự hứng thú, say mê công việc, được đối xử công bằng, được kính trọng, được giao tiếp với mọi người… Đãi ngộ tài chính là điều kiện cần và đãi ngộ phi tài chính là điều kiện đủ để giữ chân NLĐ. Đối với hầu hết NLĐ, thu nhập là động lực đầu tiên thúc đẩy họ làm việc. Tuy nhiên, NLĐ sẽ làm việc tốt hơn khi họ được giao công việc phù hợp với chuyên môn, được làm việc trong môi trường thoải mái… từ đó thu nhập của NLĐ cũng được cải thiện đáng kể.
Vì thế, đãi ngộ phi tài chính là điều kiện để NLĐ được hưởng những đãi ngộ tài chính tốt nhất. Với cách tiếp cận theo hai nội dung trên, giáo trình Tiền lương - Tiền công Trường Đại học Lao động xã hội (2011), lại đưa ra khái niệm thù lao. Thù lao bao gồm mọi hình thức lợi ích về tài chính, phi tài chính và những dịch vụ đích thực mà NLĐ được hưởng trong quá trình làm thuê. Thù lao được chia thành thù lao trực tiếp (được trả trực tiếp bằng tiền) và thù lao gián tiếp (trả bằng các dịch vụ hay tiền thưởng).
10 Theo Giáo trình Quản trị nhân lực (2009), Lê Thanh Hà, NXB Lao động – Xã hội thì “Thù lao lao động là tất cả các khoản mà NLĐ nhận được từ phía NSDLĐ thông qua việc bán sức lao động của họ với tổ chức”. Và có hai cách tiếp cận. Cách tiếp cận thứ nhất, Thù lao lao động bao gồm ba thành phần cơ bản là thù lao cơ bản, các khuyến khích tài chính và các khoản phúc lợi. Thù lao cơ bản là phần thù lao mà NLĐ nhận được theo định kỳ dưới dạng tiền lương (theo tuần, tháng), hoặc là tiền công theo giờ, theo vụ việc.
Các khuyến khích tài chính là những khoản tiền ngoài lương mà NLĐ nhận được từ các chương trình khuyến khích nâng cao năng suất, chất lượng lao động như tiền thưởng, tiền chia cho người lao động từ lợi nhuận. Các khoản phúc lợi là phần thù lao gián tiếp NLĐ nhận được dưới dạng hỗ trợ cuộc sống như bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế; lương hưu; tiền trả cho các ngày nghỉ theo quy định của pháp luật lao động; các chương trình giải trí, nghỉ mát; nhà ở; phương tiện đi lại; tiền ăn trưa, sinh nhật; các phúc lợi khác (nếu có). Cách tiếp cận thứ hai, thù lao lao động gồm các khoản thù lao tài chính và thù lao phi tài chính. Thù lao tài chính là hình thức thù lao của doanh nghiệp được thực hiện thông qua các công cụ bằng tiền bạc, giúp NLĐ tái sản xuất sức lao động (Lương cơ bản, tiền thưởng cố định hàng năm, hoa hồng, phân chia năng suất, phân chia lợi nhuận, Bảo hiểm, trợ cấp xã hội, phúc lợi, an sinh xã hội…).
Thù lao phi tài chính được hiểu là những lợi ích mà NLĐ nhận được từ nội dung công việc (nhiệm vụ thích thú, trách nhiệm công việc, đánh giá kết quả thực hiện công việc, cảm giác hoàn thành công việc, cơ hội thăng tiến, cơ hội đào tạo.) và môi trường làm việc (đồng nghiệp, lãnh đạo, chính sách. Vậy có thể hiểu: Đãi ngộ nhân lực là quá trình bù đắp lao động về vật chất và tinh thần thông qua các công cụ đòn bẩy nhằm duy trì, củng cố, phát 11 triển lực lượng lao động cũng như đời sống cho NLĐ. Đãi ngộ nhân lực trong DN được thể hiện dưới hai hình thức cơ bản đó là đãi ngộ tài chính và đãi ngộ phi tài chính. Đãi ngộ tài chính Đãi ngộ tài chính là khoản tiền mà NSDLĐ trả cho NLĐ do họ đã thực hiện những công việc mà NSDLĐ giao.
Đó là khoản tiền trả cho số lượng, chất lượng lao động; cho những đóng góp của NLĐ trong điều kiện bình thường. Nó cũng có thể được trả cho NLĐ đảm nhận thêm trách nhiệm hoặc làm việc trong những điều kiện không bình thường. Điều này có ý nghĩa rất lớn giúp DN đạt hiệu quả kinh doanh cao nhờ sự tích cực, sáng tạo, tận tụy và trung thành của NLĐ với sự nghiệp kinh doanh của DN. Trong bài viết “Đổi mới chính sách đãi ngộ nhân sự của các DN thời kỳ hậu gia nhập WTO” hoạt động đãi ngộ tài chính được áp dụng chủ yếu là trả lương bao gồm hai phần là lương cơ bản và phần thu nhập được nhận theo kết quả công việc của mỗi cá nhân.
Bên cạnh việc trả lương thì trả thưởng theo năng suất và hiệu quả công việc cũng được coi là hoạt động đãi ngộ nhân sự của các DN. Các chính sách liên quan đến hoạt động đãi ngộ tài chính này qua thời gian đã có nhiều thay đổi theo hướng tích cực gắn với hiệu quả công việc. Các tác giả đã cho thấy hai hoạt động đãi ngộ cơ bản trong đãi ngộ tài chính là trả lương và trả thưởng cần phải được coi trọng, đây là một đòn bẩy quan trọng để DN có thể thu hút được người tài, giữ chân nhân viên giỏi và khuyến khích họ cống hiến hết mình cho công việc, qua đó phát triển DN một cách bền vững. Đãi ngộ tài chính thực chất là quá trình chăm lo cuộc sống vật chất của NLĐ thông qua các công cụ là tiền bạc.
Thông qua đãi ngộ tài chính, DN khuyến khích NLĐ làm việc say mê, nhiệt tình, sáng tạo và quan trọng hơn, gắn bó lâu dài với DN. 12 Vậy có thể hiểu, Đãi ngộ tài chính trong DN là đãi ngộ thực hiện bằng các công cụ tài chính, bao gồm nhiều loại khác nhau: tiền lương, tiền thưởng, phụ cấp, phúc lợi, cổ phần… 1. Nội dung đãi ngộ tài chính cho người lao động trong doanh nghiệp 1. Tiền lương Cùng với các thời kỳ và sự phát triển của khoa học kinh tế, các khái niệm về tiền lương cũng được quan niệm theo các cách khác nhau.
Trên thực tế, khái niệm tiền lương rất đa dạng ở các nước trên thế giới. Mác định nghĩa: “Tiền lương là giá cả của sức lao động, nhưng biểu hiện ra bên ngoài như là giá cả của lao động”. Tổ chức lao động quốc tế (ILO): “ Tiền lương là sự trả công hoặc thu nhập, bất kể tên gọi hay cách tính mà có thể biểu hiện bằng tiền và được ấn định bằng thỏa thuận giữa NSDLĐ và NLĐ, hoặc bằng pháp luật quốc gia, do NSDLĐ phải trả cho NLĐ theo một hợp đồng thuê mướn lao động, bằng viết hoặc bằng miệng, cho một công việc đã thực hiện hoặc sẽ phải thực hiện, hoặc cho những dịch vụ đã làm hoặc sẽ phải làm” Ở nước ta cũng có nhiều khái niệm khác nhau về tiền lương. Một số khái niệm về tiền lương như sau: Tiền lương là khoản tiền mà NLĐ nhận được khi họ đã hoàn thành hoặc sẽ hoàn thành một công việc nào đó mà công việc đó không bị pháp luật ngăn cấm.
Tiền lương là số lượng tiền tệ mà NSDLĐ trả cho NLĐ khi họ đã hoàn thành công việc theo chức năng, nhiệm vụ được pháp luật quy định hoặc hai bên đã thỏa thuận trong hợp đồng lao động. Theo quy định tại Khoản 1 Điều 90 Bộ luật Lao động năm 2012 thì “ Tiền lương là khoản tiền mà NSDLĐ trả cho NLĐ để thực hiện công việc theo thỏa thuận. Tiền lương bao gồm mức lương theo công việc hoặc chức 13 danh, phụ cấp lương và các khoản bổ sung khác. Mức lương của NLĐ không được thấp hơn mức lương tối thiểu do Nhà nước quy định” Theo Giáo trình Tiền lương - Tiền công, Nguyễn Tiệp, Nhà xuất bản Lao động – Xã hội: “Tiền lương là giá cả sức lao động, được hình thành trên cơ sở thỏa thuận giữa NLĐ và NSDLĐ thông qua hợp đồng lao động, phù hợp với quan hệ cung - cầu sức lao động và phù hợp với các quy định về tiền lương của pháp luật lao động.