Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH ĐỐI VỚI NGƯỜI KHUYẾT TẬT 1. Khái quát về người khuyết tật và chính sách đối với người khuyết tật 1. Người khuyết tật Năm 2017 Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) đã thống kê, ước tính có khoảng 15% dân số thế giới, tương đương với hơn 1 tỷ người đang sống với ít nhất một dạng khuyết tật nhất định. Có gần 200 triệu người trong tổng số người khuyết tật, tuổi từ 15 trở lên có nhiều khó khăn trong cuộc sống hàng ngày.
Và tổ chức này cũng nhận định tỷ lệ người khuyết tật sẽ gia tăng trong những năm tới, một phần vì dân số thế giới đang lão hóa và vì sự gia tăng của một số bệnh mãn tính. Vì vậy, Người khuyết tật đã trở thành vấn đề toàn cầu và cần có các nghiên cứu và giải pháp đồng bộ. Khoảng 80% dân số người khuyết tật hiện đang sống ở các nước đang phát triển và phần lớn trong số họ không tiếp cận được các thành tựu phát triển thiên niên kỷ (Chương trình phát triển liên hợp quốc (UNDP), 2017). Nhóm dân cư này cũng có tình trạng sức khỏe kém hơn, có kết quả học thấp hơn, ít được tham gia vào các hoạt động kinh tế hơn so với người không có khuyết tật (World Bank, 2011).
Một trong những nguyên nhân dẫn đến thực trạng trên phải kể đến việc người khuyết tật không tiếp cận được các dịch vụ mà nhiều người không có khuyết tật mặc nhiên được tiếp cận như thông tin, chăm sóc y tế, giáo dục, cơ hội làm việc và sử dụng các phương tiện giao thông đi lại. Công ước của Liên Hợp Quốc về Quyền của Người khuyết tật (The Convention on the Rights of Persons with Disabilities - CRPD) được thông qua năm 2006. Công ước có mục tiêu “khuyến khích, bảo vệ và đảm bảo nhân quyền và những quyền tự do cơ bản cho tất cả người khuyết tật; và quảng bá sự tôn 16 download by : skknchat@gmail.com trọng phẩm giá cho người khuyết tật” (Điều 1). Công ước cũng nêu rõ “người khuyết tật bao gồm những người có khiếm khuyết lâu dài về thân thể, tinh thần, tư duy hay giác quan, khi tương tác với các rào cản khác nhau trong xã hội những khiếm khuyết này có thể hạn chế sự tham gia đầy đủ và hiệu quả của họ vào các hoạt động xã hội trên cơ sở bình đẳng với những người khác” (Điều 1) (United Nations (UN), 2006).
Quan điểm này xem người khuyết tật là đối tượng nhận trợ cấp, điều trị y tế hay bảo trợ xã hội. Theo cách tiếp cận quyền, người khuyết tật được xem là chủ thể với các quyền như các công dân khác trong xã hội. Vì vậy các quyền của họ cần được tôn trọng và bảo đảm. Do vậy, cần có chính sách và chương trình thích hợp để người khuyết tật có thể tham gia bình đẳng và đầy đủ vào xã hội.
Ở Việt Nam, khuyết tật và tàn tật là hai từ để chỉ cùng một khái niệm, từ năm 2009 trở về trước chúng ta vẫn dùng song song hai từ này trên cả phương tiện truyền thông đại chúng và văn bản pháp quy. Tuy nhiên, trong các pháp lệnh trước đây của nhà nước Việt Nam, tàn tật là cụm từ được chính thức được sử dụng. Tại Điều 1 - Pháp lệnh về Người tàn tật năm 1998, người tàn tật được định nghĩa như sau: “Người tàn tật theo quy định của Pháp lệnh này không phân biệt nguồn gốc gây ra tàn tật là Người bị khiếm khuyết một hay nhiều bộ phận cơ thể hoặc chức năng biểu hiện dưới những dạng tật khác nhau, làm suy giảm khả năng hoạt động, khiến cho lao động, sinh hoạt, học tập gặp nhiều khó khăn”. Đến năm 2010, Quốc hội Việt Nam đã chính thức sử dụng cụm từ NKT thay cho tàn tật trong các bộ luật ban hành có liên quan.
Theo khoản 1 - Điều 2 Luật NKT được Quốc hội nước CHXHCN Việt Nam thông qua ngày 17/6/2010 và có hiệu lực từ ngày 01/01/2011, NKT được định nghĩa như sau: “NKT là Người bị khiếm khuyết một hoặc nhiều bộ phận cơ thể hoặc bị suy giảm chức năng được biểu hiện dưới dạng tật 17 download by : skknchat@gmail.com khiến cho lao động, sinh hoạt, học tập gặp khó khăn, cụ thể như Khái niệm của Bộ y tế: Người tàn tật là người có khuyết tật thể hiện ở những rối loạn về tâm lý, sinh lý hoặc một chức năng nào đó của con người như: nghe, nhìn, vận động thần kinh. Và khái niệm của Bộ LĐTB&XH: Người tàn tật là người có khuyết tật không có khả năng tự nuôi sống bản thân phải dựa vào người thân, cộng đồng và sự trợ giúp của nhà nước. Không như Công ước về Quyền của Người khuyết tật như đã nêu ở trên, định nghĩa của Việt Nam chỉ dừng ở các khiếm khuyết trên góc độ y tế mà không đề cập các khó khăn mà người khuyết tật gặp phải khi tiếp cận các dịch vụ công hay khi tham gia các hoạt động xã hội. Nguyên nhân dẫn tới khuyết tật ở người Các nguyên nhân dẫn đến khuyết tật như: Bẩm sinh, bệnh tật, chiến tranh, sinh hoạt, tại nạn giao thông, tai nạn lao động.
Nếu như giai đoạn trước đây, các nguyên nhân như: bẩm sinh, bệnh tật, chiến tranh là nguyên nhân chính dẫn tới khuyết tật. Thì trong những năm tới, các nguyên nhân như: tai nạn giao thông, tai nạn lao động, ô nhiễm môi trường sẽ khiến cho số lượng người khuyết tật có xu hướng ngày một gia tăng. Ở Việt Nam, có tới 35,8% khuyết tật do bẩm sinh, 32,34% khuyết tật do bệnh tật, 25,56% khuyết tật do hậu quả chiến tranh, 3,49% khuyết tật do tai nạn lao động và 2,81% khuyết tật do các nguyên nhân khác. Dự báo trong nhiều năm tới số lượng NKT ở Việt Nam chưa giảm do tác động của ô nhiễm môi trường, ảnh hưởng của chất độc hóa học do Mỹ sử dụng trong chiến tranh Việt Nam, tai nạn giao thông và tai nạn lao động, hậu quả thiên tai… 1.
Quyền của người khuyết tật 18 download by : skknchat@gmail.com Người khuyết tật trước hết là con người, nói tới người khuyết tật là ta nói tới một nhóm người và người khuyết tật là nhóm người dễ bị tổn thương nhất trong các nhóm xã hội dễ bị tổn thương (bên cạnh các nhóm như: phụ nữ, trẻ em, người thiểu số. Bởi vậy, để đi đến khái niệm về quyền của người khuyết tật, trước tiên ta phải tìm hiểu một loạt các khái niệm như: Quyền con người? Quyền của nhóm? Quyền của nhóm người dễ bị tổn thương? Có nhiều định nghĩa khác nhau về quyền con người. Ở Việt Nam, một số định nghĩa về quyền con người do một số chuyên gia, cơ quan nghiên cứu từng nêu ra cũng không hoàn toàn giống nhau, nhưng xét chung, quyền con người thường được hiểu là những nhu cầu, lợi ích tự nhiên, vốn có và khách quan của con người được ghi nhận và bảo vệ trong pháp luật quốc gia và các thỏa thuận pháp lý quốc tế. Trong thực tế ở Việt Nam, bên cạnh thuật ngữ “quyền con người”, có một thuật ngữ khác cũng được sử dụng, đó là “nhân quyền”.
Cả hai thuật ngữ này đều bắt nguồn từ thuật ngữ chung bằng tiếng Anh được sử dụng trong môi trường quốc tế, đó là human rights. Từ human rights trong tiếng Anh có thể được dịch là quyền con người (thuần Việt) hoặc nhân quyền (Hán - Việt). Theo Đại Từ điển Tiếng Việt, “nhân quyền” chính là “quyền con người”. Như vậy, xét về mặt ngôn ngữ học, quyền con người và nhân quyền là hai từ đồng nghĩa, do đó, hoàn toàn có thể sử dụng cả hai từ này trong nghiên cứu, giảng dạy và hoạt động thực tiễn về nhân quyền [17, tr.
Vậy thế nào là quyền của nhóm? Chúng ta đều biết người khuyết tật thuộc nhóm người dễ bị tổn thương, và theo cách phân loại theo chủ thể của quyền, thì quyền của người khuyết tật năm trong quyền của nhóm. Nếu như quyền cá nhân được hiểu là các quyền thuộc về mỗi cá nhân, bất kể họ có hay không là thành viên của bất kỳ một nhóm xã hội nào, 19 download by : skknchat@gmail.com và việc hưởng thụ các quyền này là tùy thuộc ý chí của mỗi cá nhân thì ngược lại, theo nghĩa rộng của nó, quyền của nhóm được hiểu là những quyền đặc thù, chung của một tập thể hay một nhóm xã hội nhất định, mà để được hưởng thụ các quyền này cần phải là thành viên của nhóm, và đôi khi cần phải thực hiện cùng với các thành viên khác của nhóm [19, tr. Khái niệm các nhóm người dễ bị tổn thương (vulnerable group) được sử dụng rất phổ biến trong các văn kiện pháp lý quốc tế và trong các hoạt động nghiên cứu, thực tiễn về quyền con người trên thế giới. Mặc dù không có định nghĩa chính thức chung nào được đưa ra về các nhóm người dễ bị tổn thương, tuy nhiên, từ các nguồn tài liệu và thực tiễn về quyền con người, có thể hiểu rằng khái niệm này chỉ những nhóm, cộng đồng có vị thế về chính trị, xã hội hoặc kinh tế thấp hơn, từ đó khiến họ có nguy cơ cao hơn bị bỏ quên hay bị vi phạm.
Các quyền con người, và bởi vậy, họ cần được chú ý bảo vệ đặc biệt so với những nhóm, cộng đồng người khác. Một số nhóm người được coi là dễ bị tổn thương trong luật quốc tế về quyền con người bao gồm: phụ nữ, NKT, người sống chung với HIV, người di tản hoặc tìm kiếm nơi lánh nạn, người không quốc tịch, người lao động di trú, người thiểu số, người bản địa, nạn nhân chiến tranh, những người bị tước tự do, người cao tuổi. Nếu như trong một số vấn đề chung về nhân quyền hiện nay vẫn còn đang được tranh cãi và ở một số quốc gia bị coi là nhạy cảm, thì trong vấn đề quyền của các nhóm xã hội dễ bị tổn thương, các quốc gia thường có sự đồng thuận và ủng hộ ở mức cao. Điều đó thể hiện ở việc hầu hết các điều ước quốc tế về quyền của các nhóm này, ví dụ như: CRC, CEDAW, và gần đây là ICRPD.
thường có số lượng quốc gia thành viên đứng hàng đầu trong các điều ước quốc tế về nhân quyền [19, tr. 20 download by : skknchat@gmail.com Khái niệm quyền của người khuyết tật gồm nội hàm của khái niệm quyền con người, quyền của nhóm, người khuyết tật cũng có các quyền cơ bản về dân sự, chính trị, kinh tế, xã hội và văn hóa.