Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH BẢO HIỂM XÃ HỘI BẮT BUỘC TẠI CÁC DOANH NGHIỆP VỪA VÀ NHỎ 1. Các khái niệm cơ bản 1. Bảo hiểm xã hội và chính sách bảo hiểm xã hội 1. Khái niệm BHXH Bảo hiểm là những quan hệ kinh tế gắn liền với quá trình hình thành, phân phối và sử dụng các quỹ tập trung - quỹ bảo hiểm - nhằm xử lý các rủi ro, các biến cố.
Bảo hiểm bảo đảm cho quá trình tái sản xuất và đời sống của xã hội được diễn ra bình thường. Bảo hiểm là biện pháp chia sẻ rủi ro của một người hay của số một ít người cho cả cộng đồng những người có khả năng gặp rủi ro cùng loại; bằng cách mỗi người trong cộng đồng góp một số tiền nhất định vào một quỹ chung và từ quỹ chung đó bù đắp thiệt hại cho thành viên trong cộng đồng không may bị thiệt hại do rủi ro đó gây ra. Bảo hiểm có các hình thức khác nhau như: BHXH, bảo hiểm y tế, bảo hiểm kinh doanh và bảo hiểm thương mại. BHXH là một trong những hình thức của bảo hiểm.
BHXH là loại hình bảo hiểm do nhà nước tổ chức và quản lý nhằm thỏa mãn các nhu cầu vật chất ổn định cuộc sống của người lao động và gia đình họ khi gặp những rủi ro làm giảm hoặc mất khả năng lao động. Điều 3 Luật Bảo hiểm xã hộicủa Việt Nam 2018 cũng định nghĩa BHXH là sự bảo đảm thay thế hoặc bù đắp một phần thu nhập của người lao động khi họ bị giảm hoặc mất thu nhập do ốm đau, thai sản, tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, thất nghiệp, hết tuổi lao động hoặc chết, trên cơ sở đóng vào quỹ BHXH. Công ước Geneve 1952 của Tổ chức lao động quốc tế ILO khuyến nghị hệ thống các chế độ BHXH bao gồm: chăm sóc y tế; trợ cấp ốm đau; trợ cấp thất nghiệp; trợ cấp tuổi già; trợ cấp tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp; trợ cấp gia đình; trợ cấp sinh sản; trợ cấp tàn phế; và trợ cấp cho người bị mất người nuôi dưỡng. Tại Việt Nam, BHXH thực hiện chế độ như sau: 1.
BHXH bắt buộc bao gồm các chế độ: ốm đau; thai sản; tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp; hưu trí; tử tuất. BHXH tự nguyện bao gồm các chế độ: hưu trí; tử tuất. Bảo hiểm thất nghiệp bao gồm các chế độ: trợ cấp thất nghiệp; hỗ trợ học nghề; hỗ trợ tìm việc làm. BHXH hoạt động dựa trên nguồn quỹ BHXH, bao gồm: người sử dụng lao động đóng góp; người lao động đóng góp một phần tiền lương của mình, thu từ các đối tượng tham gia BHXH tự nguyện; và nhà nước đóng góp và hỗ trợ.
Có thể nói, BHXH là sự bảo đảm thay thế hoặc bù đắp một phần thu nhập cho người lao động khi họ bị mất hoặc giảm khoản thu nhập từ nghề nghiệp do bị mất hoặc giảm khả năng lao động hoặc mất việc làm do những rủi ro xã hội thông qua việc hình thành, sử dụng một quỹ tài chính do sự đóng góp của các bên tham gia BHXH, nhằm góp phần đảm bảo an toàn đời sống của người lao động và gia đình họ, đồng thời góp phần bảo đảm an toàn xã hội. Lịch sử phát triển của BHXH Trên thế giới, hệ thống an sinh, BHXH ra đời khá sớm. Ngay từ những năm 1850, hệ thống BHXH đầu tiên đã được thiết lập tại nước Phổ (nay là Cộng hòa Liên bang Đức), với sự tham gia của giới thợ trong bảo hiểm ốm đau, sau đó đã thu hút được mọi tầng lớp xã hội và mở rộng ra các trường hợp khác. Từ kinh nghiệm của Công hòa Liên bang Đức, hoạt động BHXH đã lan dần ra châu Âu vào đầu thế kỷ XX, sau đó đến các nước Mỹ Latin rồi Mỹ, Canada vào những năm 30 của thế kỷ XX.
Sau Chiến tranh thế giới thứ hai, BHXH tiếp tục là chính sách công bảo đảm an sinh xã hội mang tính chất cộng đồng đươc áp dụng tại các nước giành được độc lập tại châu Á, châu Phi và vùng Caribe trong nửa cuối thế kỷ XX. [24] BHXH đã và đang trở thành một chính sách quốc tế gắn với vai trò của Tổ chức Lao động quốc tế ILP của Liên Hợp Quốc. Đó là một trong những quyền cơ bản nhất của con người được ghi nhận trong Tuyên ngôn nhân quyền của Liên Hợp Quốc: "Tất cả mọi người với tư cách là thành viên của xã hội có quyền hưởng BHXH, quyền đó được đặt cơ sở trên sự thỏa mãn các quyền về kinh tế - xã hội và văn hóa, nhu cầu cho nhân cách và sự tự do phát triển của con người." Tính đến nay, theo Tổ chức Lao động quốc tế ILO, có khoảng 170 quốc gia trên thế giới thực hiện chính sách BHXH, trong đó có 155 10 quốc gia (chiếm 95%) những chỉ có 63 quốc gia (chiếm 38,6%) thực hiện hình thức bảo hiểm hưu trí, tai nạn lao động, ốm đau, thai sản. Qua đó cho thấy việc thực hiện các hình thức bảo hiểm khác nhau sẽ tùy thuộc vào điều kiện, tình hình kinh tế, chính trị, xã hội cụ thể của mỗi quốc gia.
Bên cạnh đó, xu hướng chung là các quốc gia ngày càng thực hiện đầy đủ hơn các hình thức bảo hiểm, coi đây là giải pháp đảm bảo tốt hơn quyền lợi, trách nhệm của người lao động nói riêng và chính sách ổn định xã hội nói chung trên cơ sở bảo đảm nguyên tắc công bằng, bình đằng, tạo điều kiện thuận lợi để mọi người dân đều có thể tiếp cận, tham gia và hưởng lợi từ chính sách BHXH; tuân thủ nguyên tắc đóng hưởng, bảo đảm tính cân đối, bền vững giữa mức đóng góp và mức hưởng thụ; có sự chia sẻ, hỗ trợ, bổ sung cho nhau giữa các thành viên, giữa các chính sách trong hệ thống BHXH. Tại Việt Nam, Điều 7 Nghị quyết về giành chính quyền toàn quốc và thi hành 10 chính sách lớn của Việt Minh được thông qua tại kỳ họp Quốc dân Đại hội từ ngày 16 đến ngày 17 tháng 8 năm 1945 có viết: “Ban bố Luật Lao động; ngày làm 08 giờ, định lương tối thiểu, đặt xã hội bảo hiểm." Ngay sau khi giành được chính quyền, ngày 3 tháng 11 năm 1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã thay mặt Chính phủ ban hành Sắc lệnh số 54-SL về ấn định các điều kiện cho công chức về hưu trí; ngày 14 tháng 6 năm 1946 ban hành Sắc lệnh số 105-SL quy định về việc cấp hưu bổng và đóng BHXH đối với công chức. Có thể nói, hai văn bản này là hai băn bản đầu tiên quy định về quyền lợi, mức hưởng hưu trí của công chức, khẳng định nguyên tắc đóng - hưởng của BHXH, quy định trách nhiệm bảo hộ của Nhà nước đối với Quỹ BHXH. Phân loại BHXH BHXH có mục đính đặt ra là mọi người sống trong cùng một xã hội có thể cùng san sẻ và giúp đỡ nhau nhiều hơn thông qua BHXH.
BHXH có hai loại: BHXH bắt buộc và BHXH tự nguyện. BHXH bắt buộc là loại bảo hiểm mà bắt buộc những người khi tham gia lao động và những người chủ lao động phải đóng. Thường thì chủ doanh nghiệp và người lao động cùng chi trẻ cho loại bảo hiểm này với mức chia người sử dụng lao động phải đóng nhiều hơn. 11 BHXH tự nguyện là loại bảo hiểm không bắt buộc.
Mọi người được lựa chọn có thể mua hoặc không và chọn mua theo khả năng của mình, tùy vào điều kiện thu nhập của cá nhân và gia đình với các mức đóng khác nhau. Các nguyên tắc cơ bản Chính sách BHXH dựa trên năm nguyên tắc cơ bản, bao gồm: Nguyên tắc thứ nhất là mức hưởng BHXH được tính trên cơ sở mức đóng, thời gian đóng BHXH và có chia sẻ giữa những người tham gia BHXH. Người lao động khi có việc làm và khỏe mạnh sẽ đóng góp một phần tiền lương, thu nhập để hỗ trợ bản thân hoặc người khác khi ốm đau, tai nạn, lúc sinh đẻ và chăm sóc con cái, lúc tuổi già để duy trì và ổn định cuộc sống của bản thân và gia đình.[25] Nguyên tắc thứ hai là mức đóng BHXH bắt buộc, bảo hiểm thất nghiệp được tính trên cơ sở tiền lương, tiền công của người lao động. Mức đóng BHXH tự nguyện được tính trên cơ sở mức thu nhập do người lao động lựa chọn nhưng mức thu nhập này không thấp hơn mức lương tối thiểu chung.
Nguyên tắc thứ ba là người lao động vừa có thời gian đóng BHXH bắt buộc vừa có thời gian đóng BHXH tự nguyện được hưởng chế độ hưu trí và chế độ tử tuất trên cơ sở thời gian đã đóng BHXH. Nguyên tắc thứ tư là quỹ BHXH được quản lý thống nhất, dân chủ, công khai, minh bạch, được sử dụng đúng mục đích, được hạch toán độc lập theo các quỹ thành phần của BHXH bắt buộc, BHXH tự nguyện và bảo hiểm thất nghiệp. Nguyên tắc thứ năm là việc thực hiện BHXH phải đơn giản, dễ dàng, thuận tiện, bảo đảm kịp thời và đầy đủ quyền lợi của người tham gia BHXH. Doanh nghiệp vừa và nhỏ và thực hiện chính sách BHXH bắt buộc trong doanh nghiệp vừa và nhỏ Khái niệm Doanh nghiệp vừa và nhỏ, hay còn gọi là doanh nghiệp siêu nhỏ, nhỏ và vừa là những doanh nghiệp có quy mô nhỏ bé về mặt vốn, lao động hay doanh thu.
Doanh nghiệp nhỏ và vừa có thể chia thành ba loại cũng căn cứ vào quy mô đó là doanh nghiệp siêu nhỏ (micro), doanh nghiệp nhỏ và doanh nghiệp vừa. 12 Theo pháp luật Việt Nam hiện nay, doanh nghiệp vừa và nhỏ là cơ sở kinh doanh đã đăng ký kinh doanh theo quy định pháp luật, được chia thành ba cấp: siêu nhỏ, nhỏ, vừa theo quy mô tổng vốn (tổng nguồn vốn tương đương tổng tài sản được xác định trong bảng cân đối kế toán của doanh nghiệp) hoặc số lao động bình quân năm (tổng nguồn vốn là tiêu chí ưu tiên), cụ thể như sau: Bảng 1.1: Bảng phân loại doanh nghiệp vừa và nhỏ Doanh nghiệp Quy mô Doanh nghiệp nhỏ Doanh nghiệp vừa siêu nhỏ Tổng Tổng nguồn Khu vực Số lao động Số lao động Số lao động nguồn vốn vốn I. Nông, lâm Từ trên 10 Từ trên 20 Từ trên 200 10 người trở 20 tỷ đồng nghiệp và thủy người đến tỷ đồng đến người đến xuống trở xuống sản 200 người 100 tỷ đồng 300 người Từ trên 10 Từ trên 20 Từ trên 200 II. Công nghiệp 10 người trở 20 tỷ đồng người đến tỷ đồng đến người đến và xây dựng xuống trở xuống 200 người 100 tỷ đồng 300 người Từ trên 10 Từ trên 10 Từ trên 50 III.