Luận văn về việc tách chiết enzyme bromelin tinh khiết từ dứa

Chuyên khảo phân tích Luận văn tách chiết tinh sạch và cố định enzyme bromelin từ dứa, đánh giá các khía cạnh quan trọng, đề xuất hướng nghiên cứu tiếp theo.

Chuyên ngành

Công Nghệ Sinh Học

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Đồ Án Tốt Nghiệp

2010

121
25
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CẢM ƠN

1. CHƯƠNG 1: MỞ ĐẦU

1.1. MỤC TIÊU ĐỀ TÀI

1.1.1. Mục tiêu tổng quát

1.1.2. Mục tiêu cụ thể

1.2. MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU

1.3. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

1.3.1. Nghiên cứu lý thuyết

1.3.2. Nghiên cứu thực nghiệm

1.4. GIỚI HẠN CỦA ĐỀ TÀI

2. CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

2.1. SƠ LƯỢC VỀ CÂY DỨA

2.1.1. Lịch sử và sự phát triển của cây dứa

2.1.2. Thành phần dinh dưỡng trong dứa

2.1.3. Các bộ phận trên cây dứa có thể cho enzyme bromelain

2.2. GIỚI THIỆU SƠ LƯỢC VỀ ENZYME

2.2.1. Giới thiệu sơ lược các enzyme protease

2.2.2. Protease vi sinh vật

2.2.3. Protease động vật

2.2.4. Protease thực vật

2.2.5. Ứng dụng của enzyme protease

2.3. ENZYME BROMELAIN THU NHẬN TỪ DỨA

2.3.1. Giới thiệu enzyme bromelain

2.3.2. Tính chất vật lý của enzyme bromelain

2.3.3. Tính chất hoá học của enzyme bromelain

2.3.3.1. Cấu tạo hoá học
2.3.3.2. Cấu trúc không gian của bromelain

2.3.4. Hoạt tính của enzyme bromelain

2.3.5. Cơ chế tác động

2.3.6. Các yếu tố ảnh hưởng đến hoạt tính enzyme bromelain

2.3.7. Ứng dụng của enzyme bromelain

2.3.7.1. Trong công nghiệp thực phẩm
2.3.7.2. Một số enzyme bromelain thương mại

2.3.8. Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước về enzyme bromelain

2.3.8.1. Nghiên cứu trong nước
2.3.8.2. Nghiên cứu ngoài nước

2.4. KĨ THUẬT CƠ BẢN CHUẨN BỊ DỊCH PROTEIN THÔ

2.5. CÁC PHƯƠNG PHÁP TỦA PROTEIN

2.5.1. Tủa bằng muối sulfate ở các nồng độ khác nhau

2.5.2. Tủa bằng dung môi hữu cơ

2.5.3. Tủa bằng điểm đẳng nhiệt

2.5.4. Tủa bằng các loại polymer

2.5.5. Tủa bằng các chất đa điện phân

2.6. SỰ CỐ ĐỊNH ENZYME

2.6.1. Định nghĩa enzyme cố định

2.6.2. Tính chất ưu và nhược của enzyme cố định

2.6.3. Các yếu tố ảnh hưởng đến hoạt tính enzyme cố định

2.6.4. Các phương pháp cố định enzyme

2.6.4.1. Phương pháp liên kết enzyme với vật liệu cố định
2.6.4.2. Phương pháp hấp thụ vật lí
2.6.4.3. Phương pháp nhốt
2.6.4.4. Phương pháp khâu mạch

2.6.5. Đặc điểm, tính chất của Natrialginate

2.6.6. Ứng dụng của enzyme cố định

2.6.6.1. Trong công nghiệp
2.6.6.2. Trong nghiên cứu khoa học
2.6.6.3. Trong bảo vệ môi trường

2.6.7. Tình hình nghiên cứu trong nước và ngoài nước

2.6.7.1. Tình hình nghiên cứu trong nước
2.6.7.2. Tình hình nghiên cứu nước ngoài

3. CHƯƠNG 3: VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP

3.1. Chế phẩm enzyme thô

3.2. PHƯƠNG PHÁP THÍ NGHIỆM

3.2.1. Chiết thô enzyme từ chế phẩm dứa

3.2.2. Phương pháp xác định hàm lượng protein và hoạt tính bromelain từ dịch chiết enzyme thô

3.2.3. Xác định hàm lượng protein bằng phương pháp Bradford

3.2.4. Xác định hoạt tính enzyme theo phương pháp Amano

3.2.5. Tách enzyme bằng các phương pháp tủa bằng cồn 960, muối Ammonium sulfate (NH4)2SO4 và aceton(CH3COCH3)

3.2.5.1. Phương pháp thí nghiệm tủa enzyme bằng cồn 960
3.2.5.2. Phương pháp thí nghiệm tủa bằng muối Ammonium sulfate
3.2.5.3. Phương pháp thí nghiệm tủa bằng aceton

3.2.6. Phương pháp xác định tỉ lệ cồn 960, nồng độ muối (NH4)2SO4 và tỉ lệ aceton tối ưu để tủa enzyme bromelain

3.2.7. Phương pháp xác định pH, nhiệt độ tối ưu và độ bền nhiệt cho hoạt động của enzyme bromelain

3.2.7.1. Xác định pH tối ưu cho hoạt động của bromelain
3.2.7.2. Xác định nhiệt độ tối ưu cho hoạt động của bromelain
3.2.7.3. Khảo sát độ bền nhiệt

3.2.8. Cố định enzyme bromelain trên cơ chất Natrialginate bằng phương pháp nhốt

3.2.8.1. Tạo dung dịch Natrialginate 3%
3.2.8.2. Tiến hành cố định

3.2.9. Phương pháp xác định hiệu suất cố định protein và hiệu suất cố định hoạt tính của enzyme cố định

3.2.10. Phương pháp khảo sát ảnh hưởng của các yếu tố lý hoá đến hoạt tính của enzyme bromelain được cố định trên Natrialginate

3.2.10.1. Khảo sát ảnh hưởng của pH
3.2.10.2. Khảo sát ảnh hưởng của nhiệt độ
3.2.10.3. Khảo sát độ bền nhiệt
3.2.10.4. Khảo sát số lần tái sử dụng bromelain cố định trên Natrialginate

3.2.11. Bước đầu tinh sạch enzyme bromelain chồi dứa bằng sắc ký lọc gel

3.2.11.1. Thiết bị và hóa chất
3.2.11.2. Các bước tiến hành
3.2.11.3. Tính hiệu suất về hoạt tính enzyme protease và độ tinh sạch của enzyme sau tinh sạch bằng sắc ký lọc gel

3.2.12. Xác định trọng lượng phân tử enzyme bromelain bằng phương pháp điện di SDS - PAGE

3.2.12.1. Thiết bị và hóa chất
3.2.12.2. Phương pháp
3.2.12.2.1. Xác định trọng lượng phân tử của protein

4. CHƯƠNG 4: KẾT QUẢ VÀ BIỆN LUẬN

4.1. HÀM LƯỢNG PROTEIN VÀ HOẠT TÍNH ENZYME BROMELAIN DỊCH CHIẾT THÔ CÁC BỘ PHẬN TRÊN QUẢ DỨA

4.2. KHẢO SÁT TÁC NHÂN TỦA ENZYME BROMELAIN LÀ CỒN 960

4.2.1. Hàm lượng protein và hoạt tính bromelain bộ phận chồi trong dịch tủa là cồn 960

4.2.2. Xác định pH, nhiệt độ tối ưu và độ bền nhiệt cho hoạt tính bromelain bộ phận chồi trong dịch tủa cồn với tỉ lệ 1 dứa : 4 cồn

4.2.2.1. Khảo sát độ bền nhiệt

4.3. KHẢO SÁT TÁC NHÂN TỦA ENZYME BROMELAIN LÀ MUỐI AMMONIUM SULFATE

4.3.1. Hàm lượng protein và hoạt tính bromelain bộ phận chồi trong dịch tủa là muối Ammonium sulfate ((NH4)2SO4)

4.3.2. Xác định pH, nhiệt độ tối ưu và độ bền nhiệt cho hoạt tính bromelain bộ phận chồi trong dịch tủa muối với nồng độ 60%

4.3.2.1. Khảo sát độ bền nhiệt

4.4. KHẢO SÁT TÁC NHÂN TỦA ENZYME BROMELAIN LÀ ACETON (CH3COCH3)

4.4.1. Hàm lượng protein và hoạt tính bromelain bộ phận chồi trong dịch tủa là aceton (CH3COCH3)

4.4.2. Xác định pH, nhiệt độ tối ưu và độ bền nhiệt cho hoạt tính bromelain bộ phận chồi trong dịch tủa aceton với tỉ lệ 1 dứa : 5 aceton

4.4.2.1. Khảo sát độ bền nhiệt

4.5. SO SÁNH VIỆC TỦA ENZYME BROMELAIN TRONG CỒN 960, MUỐI AMMONIUM SULFATE VÀ ACETON

4.6. CỐ ĐỊNH ENZYME BROMELAIN TRÊN NATRIALGINATE

4.6.1. Kết quả quá trình cố định enzyme bromelain trên chất mang Natrialginate

4.6.2. Hiệu suất cố định protein và hiệu suất cố định hoạt tính của enzyme bromelain trên gel Natrialginate

4.6.3. So sánh hàm lượng và hoạt tính enzyme bromelain cố định với hàm lượng và hoạt tính enzyme trước khi cố định

4.6.4. Khảo sát hoạt tính của enzyme cố định trên Natrialginate theo pH, nhiệt độ và độ bền nhiệt

4.6.4.1. Khảo sát hoạt tính của enzyme cố định theo pH
4.6.4.2. Khảo sát hoạt tính của enzyme cố định theo nhiệt độ
4.6.4.3. Khảo sát hoạt tính của enzyme cố định theo độ bền nhiệt
4.6.4.4. Khảo sát số lần tái sử dụng bromelain cố định trên Natrialginate

4.6.5. So sánh độ bền nhiệt của chế phẩm enzyme ban đầu trước khi cố định và enzyme cố định trên Natrialginate

4.7. TINH SẠCH ENZYME BROMELAIN TRÊN BIOGEL P-100

4.7.1. Hàm lượng protein và hoạt tính bromelain trước khi tinh sạch

4.7.2. Tinh sạch enzyme bằng sắc ký lọc gel với các thông số

4.7.3. Tinh sạch enzyme đã tủa với cồn 960

4.7.4. Tinh sạch enzyme đã tủa với muối Ammonium sulfate

4.7.5. Tinh sạch enzyme đã tủa với aceton

4.7.6. So sánh kết quả giữa chế phẩm enzyme thô và dịch enzyme sau khi đã qua quá trình sắc ký lọc gel

4.8. KẾT QUẢ PHÂN TÁCH HỆ ENZYME BROMELAIN BẰNG PHƯƠNG PHÁP ĐIỆN DI SDS - PAGE

4.8.1. Thành phần mẫu điện di

4.8.2. Kết quả điện di

5. CHƯƠNG 5: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ

TÀI LIỆU THAM KHẢO

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

DANH MỤC BẢNG

DANH MỤC HÌNH ẢNH

Tóm tắt

I. Giới thiệu về enzyme bromelain

Enzyme bromelain là một loại protease có nguồn gốc từ cây dứa, chủ yếu được chiết xuất từ các bộ phận như chồi, thân và quả. Chiết xuất enzyme này không chỉ giúp nâng cao hoạt tính tiêu hóa mà còn có nhiều ứng dụng trong y học và công nghiệp thực phẩm. Nghiên cứu về enzyme bromelain đã chỉ ra rằng enzyme này có khả năng phân hủy protein, làm giảm viêm và hỗ trợ quá trình hồi phục vết thương. Việc tinh khiết enzyme bromelain từ dứa có thể giúp loại bỏ các tạp chất, từ đó nâng cao hiệu suất sử dụng enzyme trong các ứng dụng thực tiễn. Theo nghiên cứu, enzyme bromelain có ba hoạt tính chính: peptidase, amidase, và esterase, cho phép nó hoạt động hiệu quả trong nhiều môi trường khác nhau.

II. Phương pháp chiết xuất enzyme bromelain từ dứa

Quá trình chiết xuất enzyme bromelain từ dứa bao gồm nhiều bước, từ việc thu hoạch đến tủa và tinh chế. Đầu tiên, các bộ phận của dứa được lựa chọn và xử lý để thu nhận dịch chiết thô. Sau đó, enzyme được tủa bằng các tác nhân như cồn 960, muối Ammonium sulfate và aceton. Mỗi tác nhân tủa sẽ có những ưu điểm và nhược điểm riêng. Việc xác định nồng độ và tỉ lệ của các tác nhân này là rất quan trọng để đạt được hiệu suất tối ưu cho enzyme bromelain. Nghiên cứu đã chỉ ra rằng việc sử dụng muối Ammonium sulfate cho kết quả tốt hơn trong việc tủa enzyme so với cồn và aceton, nhờ vào khả năng tạo ra môi trường thích hợp cho enzyme hoạt động.

III. Tính chất và ứng dụng của enzyme bromelain

Enzyme bromelain có nhiều tính chất vượt trội, như khả năng chịu nhiệt và ổn định pH, giúp nó có thể hoạt động hiệu quả trong nhiều điều kiện khác nhau. Công dụng của bromelain không chỉ dừng lại ở việc hỗ trợ tiêu hóa mà còn được ứng dụng trong ngành thực phẩm như một chất bảo quản tự nhiên, trong y học để điều trị các bệnh viêm nhiễm và hỗ trợ phục hồi sau phẫu thuật. Bromelain trong thực phẩm có thể giúp cải thiện chất lượng sản phẩm, tăng cường hương vị và kéo dài thời gian bảo quản. Việc cố định enzyme trên các chất mang như Natrialginate cũng đang được nghiên cứu để nâng cao hiệu suất sử dụng và khả năng tái sử dụng của enzyme trong các quy trình công nghiệp.

IV. Kết luận và triển vọng nghiên cứu

Việc chiết xuất enzyme bromelain tinh khiết từ dứa không chỉ mang lại giá trị kinh tế cao mà còn góp phần bảo vệ môi trường bằng cách tận dụng các phế phẩm từ dứa. Nghiên cứu này mở ra hướng đi mới cho việc phát triển các sản phẩm từ enzyme bromelain, đồng thời khuyến khích việc ứng dụng enzyme trong nhiều lĩnh vực khác nhau. Tương lai, việc cải tiến quy trình chiết xuất và tinh chế enzyme sẽ giúp nâng cao hiệu quả và giảm chi phí sản xuất, từ đó thúc đẩy việc sử dụng enzyme bromelain trong công nghiệp thực phẩm và y học.

05/01/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

Mở đầu 1. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 1. Nghiên cứu lý thuyết Thu thập tài liệu trong và ngoài nước có liên quan đến nội dung nghiên cứu. Tổng hợp phân tích, so sánh và đánh giá lựa chọn hướng nghiên cứu phù hợp.

Phân tích đánh giá điều kiện thực tế về kỹ thuật, kinh tế, xã hội để xác định giới hạn nghiên cứu và phương án thực nghiệm. Nghiên cứu thực nghiệm Lập kế hoạch thực hiện thí nghiệm. Xử lý kết quả bằng Excel và phần mềm Statgraphics. GIỚI HẠN ĐỀ TÀI Vì lý do giới hạn về thời gian và kinh tế, đề tài chỉ thực hiện tủa enzyme với ba tác nhân tủa (muối, cồn và aceton), tinh sạch enzyme bromelain trên Biogel P-100, điện di bằng phương pháp SDS-PAGE và chỉ thực hiện cố định enzyme trên cơ chất Natrialginate ở quy mô phòng thí nghiệm.

Trang 3 Chương 2: Tổng quan về vấn đề nghiên cứu CHƯƠNG 2 TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 2. SƠ LƯỢC VỀ CÂY DỨA Hình 2.1: Dứa trước khi thu hoạch Hình 2.2: Dứa sau khi thu hoạch 2. Lịch sử và sự phát triển của cây dứa Dứa là trái cây của miền nhiệt đới, có nguồn gốc từ các quốc gia Brazil, Paraguay ở Trung và Nam Mỹ. Khi Christopher Columbus (1451-1506) thám hiểm châu Mỹ, thấy dứa trồng ở quần đảo Guadeloup rất ngon, bèn mang về triều cống nữ hoàng Tây Ban Nha Isabella Đệ Nhất.

Từ đó, dứa được đem trồng ở các thuộc địa của Tây Ban Nha, nhất là các quốc gia thuộc khu vực Thái Bình Dương như Phi Luật Tân. Tiếng Anh của Dứa là Pinapple. Các nhà thám hiểm Tây Ban Nha thấy trái dứa nom giống như chốp quả thông, bèn đặt tên là “Pina”. Người Anh thêm chữ “Apple” để nói rõ hơn về tính ngọt dịu, ăn được của trái này.

Tiếng Việt còn gọi Dứa là trái Thơm hay Khóm, có lẽ vì hương thơm dìu dịu thoát ra từ trái dứa vừa chín tới. Trang 4 Chương 2: Tổng quan về vấn đề nghiên cứu Dứa là trái cây nhiệt đới, thích hợp với môi trường ẩm thấp, nhưng có thể chịu đựng tới nhiệt độ 280F (-20C), nhưng ở nhiệt độ lạnh, cây chậm lớn và trái chua. Nông trại trồng dứa quy mô lớn đầu tiên trên thế giới được thiết lập ở Hawaii vào năm 1885. Sau đó, Phi Luật Tân là nước trồng nhiều và sản xuất cảng nhiều nhất.

Các quốc gia khác ở Đông Nam Á cũng sản xuất một khối lượng dứa khá lớn. Dứa có quanh năm, nhưng nhiều nhất vào tháng 3 và tháng 7. Trung bình thời gian từ lúc trồng tới lúc thu hoạch là 18 tháng. Dứa thường được hái khi đã chín, sẵn sàng để ăn.

Hái khi dứa còn xanh, dứa sẽ không chín tiếp vì không có đủ tinh bột để chuyển thành đường. Ở Việt Nam, dứa được trồng rất nhiều ở Phú Thọ, Ninh Bình, Lâm Đồng, Long An, Kiên Giang, Cần Thơ. Dứa Bến Lức vẫn nổi tiếng khắp miền Nam. Mỗi trái dứa có thể nặng khoảng từ 1/2 kg đến 3 kg.

Thành phần dinh dưỡng trong dứa Dứa có nhiều sinh tố C, chất xơ pectin và chất gum. Thành phần dinh dưỡng trong 100g dứa: Bảng 2.1: Thành phần dinh dưỡng của 100g dứa Độ ẩm 81.2 g Tinh chất Ether 0.267 mg Ascorbic Acid 27.2 mg Trang 5 Chương 2: Tổng quan về vấn đề nghiên cứu 2. Các bộ phận trên cây dứa có thể cho enzyme bromelain 2. Quả Quả dứa thuộc loại quả tụ, do 100-200 quả nhỏ hợp lại.

Các giống khác nhau thì hình dạng quả và mắt quả cũng khác nhau. Bộ phận ăn được của quả dứa là do trục của chùm hoa và lá bắc phát triển nên. Sau khi hòa tàn thì quả bắt đầu phát triển. Đây là bộ phận cho nhiều enzyme bromelain nhất, chiếm 50% protein của quả dứa.

(Nguồn:http://www.uk/iubmb/enzyme/EC34/3422. Thân Thân cây dứa chia làm hai phần: một phần trên mặt đất và một phần dưới mặt đất. Phần ở trên thường bị các lá che kín nên khó nhìn thấy. Khi cây đã phát triển đến mức độ nhất định, có thể dùng các mầm ngủ trên các đốt để nhân giống.

Năm 1957, Heinicke nhận thấy trong thân cây dứa có một lượng lớn bromelain và người ta bắt đầu tìm cách tách chiết nó và sản xuất dưới dạng thuốc để chữa bệnh. (Nguồn:http://www.uk/iubmb/enzyme/EC34/3422. Lá Lá dứa mọc trên thân cây theo hình xoắn ốc. Lá thường dày, không có cuốn, hẹp ngang và dài.

Bề mặt và lưng lá thường có một lớp phấn trắng hoặc một lớp sáp có tác dụng làm giảm tốc độ bốc hơi nước ở lá. Các giống dứa thường có gai nhọn và cứng ở mép lá, nhưng cũng có giống lá không gai. Tuỳ theo giống, một cây dứa trưởng thành có khoảng 60-70 lá (Nguyễn Văn Kế, 2001). Đây cũng là nguồn có thể thu nhận được enzyme bromelain.

Rễ Rễ dứa gồm rễ cái và rễ nhánh (mọc ra từ phôi hạt); rễ bất định (mọc ra từ mầm rễ trên các đốt của các loại chồi dứa trước khi đem trồng). Rễ dứa thuộc loại ăn nông, Trang 6 Chương 2: Tổng quan về vấn đề nghiên cứu phần lớn do nhân giống bằng chồi nên mọc từ thân ra, rễ nhỏ và phân nhiều nhánh. Bộ rễ dứa thường tập trung ở tầng đất 10-26 cm và phát triển rộng đến 1 m (Nguyễn Văn Kế, 2001). Đây cũng là nguồn có thể thu nhận được enzyme bromelain.

GIỚI THIỆU SƠ LƯỢC VỀ ENZYME Enzyme hay còn gọi là chất xúc tác sinh học có bản chất là protein. Enzyme có trong mọi cơ thể sinh vật, nó không những làm nhiệm vụ xúc tác cho các phản ứng hóa học nhất định trong cơ thể sinh vật (invivo) mà còn xúc tác cho các phản ứng ngoài tế bào (invitro). Vì có nguồn gốc từ sinh vật cho nên enzyme thường được gọi là chất xúc tác sinh học (biocatalisateur) nhằm phân biệt với các chất xúc tác hóa học khác. Chính nhờ sự có mặt của enzyme mà nhiều phản ứng hóa học rất khó xảy ra trong điều kiện thường ở ngoài cơ thể (do cần nhiệt độ, áp suất cao, acid mạnh hay kiềm mạnh…) nhưng trong cơ thể nó xảy ra hết sức nhanh chóng, liên tục và nhịp nhàng với nhiều phản ứng liên hợp khác trong điều kiện hết sức êm dịu, nhẹ nhàng (370C, áp suất thường, không kiềm mạnh hay acid mạnh…).

Đặc tính quan trọng nhất của enzyme là tính đặc hiệu. Tính đặc hiệu là khả năng xúc tác chọn lọc, xúc tác sự chuyển hóa một hay một số chất nhất định theo một kiểu phản ứng nhất định: đặc hiệu cảm ứng và đặc hiệu cơ chất. Enzyme không thể tổng hợp bằng con đường hóa học. Do đó muốn thu nhận enzyme chỉ có con đường duy nhất là thu nhận từ cơ thể sinh vật.

Tất cả các tế bào động vật, thực vật, vi sinh vật đều chứa enzyme nhưng mức độ enzyme thì hoàn toàn khác nhau. Hiện nay người ta khai thác enzyme từ ba nguồn cơ bản:  Động vật (hạn chế)  Thực vật (hạn chế)  Vi sinh vật (phổ biến) Trang 7 Chương 2: Tổng quan về vấn đề nghiên cứu Việc khai thác enzyme từ động vật và thực vật rất phức tạp vì nguồn nguyên liệu thu nhận khó khăn, hiệu suất thấp dẫn đến giá thành cao nên hạn chế. Việc sản xuất enzyme từ vi sinh vật có những ưu điểm như sau:  Vi sinh vật có chu kỳ sinh trưởng và phát triển rất ngắn.  Hệ enzyme của vi sinh vật vô cùng phong phú.

 Việc cải tạo giống vi sinh vật để tạo ra những chủng vi sinh vật có khả năng tổng hợp ra các loại enzyme theo ý muốn được thực hiện một cách dễ dàng trong một thời gian ngắn vì khả năng thích ứng môi trường của vi sinh vật là rất cao.  Vi sinh vật có tốc độ sinh sản cực nhanh  Vi sinh vật không đòi hỏi nghiêm ngặt về môi trường dinh dưỡng nên có thể tận dụng những phụ phế liệu công nông nghiệp để sản xuất enzyme và có thể dễ dàng điều khiển các yếu tố ảnh hưởng đến quá trình nuôi cấy để có thể thu được hiệu suất cao trong sản xuất.  Sản xuất enzyme từ vi sinh vật hoàn toàn có thể thực hiện theo quy mô công nghiệp. ENZYME PROTEASE Enzyme protease là enzyme thuộc nhóm hydrolase, xúc tác cho quá trình thủy phân liên kết peptide (-CO-NH-) của phân tử protein và peptide thành các acid amin tự do, một peptide ngắn,pepton.

Giới thiệu sơ lược các Enzyme protease 2. Protease vi sinh vật  Protease từ vi khuẩn Lượng protease sản xuất từ vi khuẩn được ước tính vào khoảng 500 tấn, chiếm Trang 8 Chương 2: Tổng quan về vấn đề nghiên cứu khoảng 59% lượng enzyme được sử dụng. Trong các chủng vi khuẩn có khả năng tổng hợp mạnh protease là Bacillus subtilis, B. thermorpoteoliticus và một số giống thuộc chi Clostridium.

subtilis có khả năng tổng hợp protease mạnh nhất (Nguyễn Trọng Cẩn và cs, 1998). Các vi khuẩn thường tổng hợp các protease hoạt động thích hợp ở vùng pH trung tính và kiềm yếu.  Protease từ nấm Nhiều loại nấm mốc có khả năng tổng hợp một lượng lớn protease được ứng dụng trong công nghiệp thực phẩm là các chủng: Aspergillus oryzae, A. saitoi, Penicillium chysogenum…  Protease từ xạ khuẩn Về phương diện tổng hợp protease, xạ khuẩn được nghiên cứu ít hơn vi khuẩn và nấm mốc.

Tuy nhiên, người ta cũng đã tìm được một số chủng có khả năng tổng hợp protease cao như: Streptomyces grieus, S. Protease động vật - Tụy tạng: Đây là nguồn enzyme sớm nhất, lâu dài nhất và có chứa nhiều enzymenhất. - Dạ dày bê: Trong ngăn thứ tư của dạ dày bê có tồn tại enzyme thuộc nhóm Protease tên là renin. Enzyme này đã từ lâu được sử dụng phổ biến trong công nghệ phomat.

Renin làm biến đổi casein thành paracasein có khả năng kết tủa trong môi trường sữa có đủ nồng độ Ca2+. Đây là quá trình đông tụ sữa rất điển hình, được nghiên cứu và ứng dụng đầy đủ nhất. Trong thực tế nhiều chế phẩm renin bị nhiễm pepsin thì khả năng đông tụ sữa kém đi. Gần đây có nghiên cứu sản xuất protease từ vi sinh vật có đặc tính renin như ở các loài Eudothia Parasitica và Mucor Purillus.

Trang 9 Chương 2: Tổng quan về vấn đề nghiên cứu Bảng 2.2: Protease động vật Protease pH Chất hoạt hóa Pepsin 1,5 – 4,0 H+, protease Chymosin 5–6 Ca2+ Trypsin 6,5 – 9,0 Enserkinase, Ca2+ Chymotrypsin 7,0 – 8,5 Ca2+ Carboxypeptidase 6,0 – 8,5 Trypsin Aminopeptidase 6,5 – 8,0 - 2. Protease thực vật Protease thực vật tập trung chủ yếu ở một số cây vùng nhiệt đới như đu đủ, dứa, cây sung, articho và đậu tương. Tất cả protease thực vật đều cùng thuộc một nhóm enzyme chứa gốc – SH trong tâm hoạt động. Thí dụ: papain từ mủ đu đủ, bromelain từ dứa, ficin từ quả sung.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Bài viết "Luận văn về việc tách chiết enzyme bromelin tinh khiết từ dứa" của tác giả Phan Thị Huỳnh Như, dưới sự hướng dẫn của PGS.TS Nguyễn Tiến Thắng và Cô Đỗ Thị Tuyến, trình bày quy trình chiết xuất enzyme bromelin từ dứa, một enzyme có nhiều ứng dụng trong công nghệ sinh học và thực phẩm. Nghiên cứu không chỉ cung cấp kiến thức về phương pháp chiết xuất mà còn nhấn mạnh tầm quan trọng của enzyme trong việc cải thiện chất lượng thực phẩm và hỗ trợ sức khỏe con người.

Nếu bạn quan tâm đến các nghiên cứu liên quan đến chiết xuất và thành phần hóa học từ thực vật, bạn có thể tham khảo bài viết Tách Chiết và Xác Định Thành Phần Hóa Học Cây Tần Dày Lá Tại Thị Xã Điện Bàn, Quảng Nam. Bài viết này cũng đề cập đến quy trình chiết xuất và phân tích thành phần hóa học, giúp bạn mở rộng kiến thức về lĩnh vực này.

Ngoài ra, bạn có thể tìm hiểu thêm về các ứng dụng của enzyme trong lĩnh vực thực phẩm qua bài viết Luận án tiến sĩ về văn hóa gia đình của người Tày ở tỉnh Cao Bằng. Mặc dù không trực tiếp liên quan, nhưng bài viết này có thể giúp bạn hiểu rõ hơn về vai trò của các sản phẩm tự nhiên trong văn hóa và đời sống con người.

Cuối cùng, để có cái nhìn tổng quan về các quy trình nghiên cứu trong lĩnh vực sinh học và hóa học, hãy tham khảo bài viết Luận văn thạc sĩ về biến động lớp phủ rừng huyện Kbang tỉnh Gia Lai. Bài viết này cung cấp thông tin về nghiên cứu và ứng dụng trong lĩnh vực sinh thái, mở rộng kiến thức cho bạn về các nghiên cứu liên quan đến môi trường và tài nguyên thiên nhiên.