MỞ ĐẦU Hau hết các chat màu sử dụng trong ngành công nghệ thực phẩm hiện nay là những chat màu tong hop. Nhu cau sử dụng các chat mau có nguôn gốc từ thiên nhiên tăng cao từ khi các báo cáo về độ an toàn của các chất màu tổng hợp được công bố. Xu hướng sử dụng chất màu tự nhiên trong công nghệ thực phẩm đã hình thành nên hướng nghiên cứu về khai thác các chat màu từ những nguyên liệu có nguồn gốc từ thực vật. Betalain là một trong những chat màu tự nhiên được quan tâm nghiên cứu nhiều nhất trong thời gian qua.
Nguồn nguyên liệu dé thu nhận betalain chủ yếu là củ cải đường (Beta vulgaris). Tuy nhiên chế phẩm màu từ nguyên liệu này có những nhược điểm như nồng độ nitrate cao, có mùi đất khó chịu do sự có mặt các dẫn xuất của geosmin và pyragine (Lim và cộng sự, 2011). Do đó, người ta cần tìm kiếm các nguồn betalain mới. Một số nghiên cứu đã sử dụng qua cây xương réng và thanh long thuộc họ Cactaceae như là một nguồn chất màu betalain tự nhiên day tiềm năng: Cụ thể như Han (2004) dã trích ly từ vỏ quả thanh long (Hylocereus undatus) bằng dung môi, và khảo sát sự 6n định của chất màu trong các điều kiện nhiệt độ khác nhau.
Tương tự, Harivaindaran và cộng sự (2008) đã tối ưu các điều kiện trích ly và 6n định chat màu từ vỏ thanh long, Jamilah Bakar (2013) tối ưu các điều kiện sây phun dịch mẫu từ vỏ thanh long (Hylocereus polyrhizus) dé thu bột màu có thé sử dụng làm phụ gia thực phẩm. Tại Việt Nam, chưa có nhiều công bố khoa học về van dé này. Gan đây, có một công bố khoa học về các điều kiện trích ly tối ưu betacyanin từ nguyên liệu vỏ thanh long bang dung môi nước kết hợp enzyme (Vo và cộng sự, 2011). Thanh long là một trong những quả trọng điểm của Việt Nam, mang lại kim ngạch xuất khẩu cao nhất trong nhóm sản phẩm rau quả tươi.
Việc tận dụng vỏ thanh long, một phụ phẩm trong chế biến thanh long, sẽ đem lại những lợi ích kinh tế cho nhà sản xuất cũng như làm giảm tác động ô nhiễm môi trường. Hiện nay, hiệu suất thu hồi chất màu betalain từ quả thanh long vẫn còn thấp do hàm lượng chất nhay trong quả cao gây cản trở cho quá trình trích ly. Dé nâng cao hiệu 2 suất thu hồi chất màu can có sự hỗ trợ của các kỹ thuật mới. Đến nay, quá trình trích ly betalain thường được thực hiện theo phương pháp truyền thống.
Gần đây, một công bố khoa học về sử dụng enzyme (pectinase) để làm giảm lượng chất nhây, từ đó làm tăng hiệu suất trích ly (Naderi và cộng sự, 2009). Nội dung luận văn sẽ khảo sát các phương pháp thu nhận betalain từ vỏ quả thanh long có sử dụng kỹ thuật sóng siêu âm dé cải thiện hiệu quả trích ly chat mau. Chương 2: TONG QUAN 2.1 Chất màu Betalain 2.1 Giới thiệu về chất màu betalain Chất màu trong thực vật phần lớn là những nhóm flavonoid, được biết đến nhiều nhất là anthocyanin. Tuy nhiên, ở một vài loài thực vật, chất màu vàng và đỏ-tím được tìm thay ở không bào không phải là anthocyanin do chứa phân tử có chứa nitơ.
Những hợp chất này được gọi là “N-anthocyanin”, và ngày nay có tên “betalain” (Kremer, 1982). Betalain thay thế chất màu anthocyanin ở hoa và quả trên một số loại thực vật thuộc bộ Caryophyllales. Sự hiện diện của betalain va anthocyanin là riêng biệt ở nhóm thực vật hạt kín, đến nay người ta vẫn chưa có báo cáo nao về sự có mặt đồng thời của betalain và anthocyanin ở cùng một loại thực vật (Moreno và cộng sự , 2008). Theo Waterman (1998), betalains được tìm thay ở thực vật (hoa và qua) chi giới han trong 10 họ Caryophyllales và chi nam Amanita, Hygrocybe, và Hygrosporus (24), trong đó một số loại có thé ăn được, được biết đến nhiều nhất là: củ cải đường (Befa vulgaris L.), hạt hay lá Aramanth (Amaranthus sp.) và qua cây xương rồng (chi Opuntia, Hylocereus) (Cai và cộng sự, 1998; Stintzing và cộng sự, 2002; Kugler và cộng sự, 2004; Vaillant và cộng sự, 2005).
Betalain được trích ly lần dau tiên từ củ cải đỏ (Beta vulgaris) dé thu nhận betanin, một loại betacyanin phố biến nhất, trong khi betaxanthin được phân lập đầu tiên từ cánh hoa Portulaca grandiflora.2 Cau tạo hóa học Betalains là chất màu tan trong nước có chứa nitơ, là hợp chất liên hợp giữa betalamic acid với cyclo-3, 4-dihydroxyphenylalanine (cyclo-DOPA) hay amino acid (amine) dé tao nên hai chất mau betacyanin (mau đỏ tím), va betaxanthin (mau vàng cam) (Moreno va cộng sự, 2008). Betalains có độ hap thu từ 476-600 nm, độ hấp thu mạnh nhất là ở bước sóng 537 nm tại pH 5. Câu trúc mang màu của betalain được cấu tạo từ hệ phân tử 1 ,2,4,7,7pentasubstituted [/7- diazaheptamethin proton hóa.1: Một dạng cấu trúc tiêu biểu cúa 1,7-diazaheptamethin (Han, 2004) Khi R' không ảnh hưởng đến liên kết của hệ sẽ thé hiện màu vàng, màu của cau trúc mang mau 1 ,2,4,7,7pentasubstituted | ,7- diazaheptamethin và bước sóng hap thu cực dai ở vùng 470-480 nm, tạo thành chất màu betaxanthin. Betacyanin được tao thành khi RỶ là dẫn xuất của L-DOPA anh hưởng đến liên kết của hệ, thé hiện màu đỏ và bước sóng hấp thu cực đại ở vùng 530-540 nm.
oh 0 = Ril ¬ any re ~ HO SN OR; | of COON H Ra O HO ~~ yy" Ì Hooc `" N `cooH HOOC N ‘COOH HOOC H H H (a) (b) (c) Hình 2.2: Cầu trúc tong quat cua betalamic acid (a), betacyanin (b), betaxanthin (c). Betanin: R1 = R2 = H, R3 = amin hoặc nhóm amino acid (Strack va cộng sự, 2003) Betacyanin là dan xuất của betanidin và isobetanidin, là glycoside hóa một trong những nhóm phenol của catechol. Tùy vào vị trí gan mà betacyanin có các dạng cau trúc khác nhau như betanin là 5-O-glucoside; gomphrenin-II là 6-O-glucoside. Dạng 5- O-glucoside thường phố biến hon (Han, 2004).
HO HO Betanidin: R,= CO,H, R,=H isoBetanidin: R, =H, R, = CO,H Hình 2.3: Cau trúc phân tir của betanidin và isobetanidin (Han, 2004) R.O COz- Betanin x R, = Beta-D-giucopyranose | R,=H Gomphrenin | R.=HhH HOOC COOH R, = Beta-D-glucopyranose đc xi. Fr KO o0 HS OH OH Beta-D-glucopyranose Hình 2.4: Cau trúc phân tir của betanin và gomphrenin (Han, 2004) Trong khi đó, betaxanthin là dân xuât của betalamic acid và amino acid. Các loại betaxanthin được tìm thấy trong tự nhiên bao gồm: vulgaxanthin, miraxanthin, portulaxanthin, indicaxanthin. HOOC | Oo > yc 00- R; Ro -H,O + N / HOOC,, Z Ro HN.
Z / ‘COOH HÀ, Z COOH COOH Hình 2.5: Phan ứng tạo thành betaxanthin (Han, 2004) 6 Bang 2.1 Một số loài thực vật có chat màu betalain trong Bộ Caryophyllales (Moreno và cộng sự, 2008) Tên thông Họ Loài thường/đại | Betalain điện Lampranthus productus Ice plant Dopaxanthin, betanidin Achatocarpacae. emum Ice plant Betacyanins va mesembryanthin crystallinum Hylocereus Thanh ny 42 long Bougainvillein-r-I, betanin, isobetanin, phyllocactin, polyrhizus ruột do. isophyllocactin, hylocerenin Betacyanins hylocerenin va H undatus Thanh long _ | isohylocerenin, và apiofuranosyl betacyanins khac Opuntia ficus- ae. or Cactus pear Betanin, indicaxanthin Cactaceae indica.
Phyll ti 1of | Schlumberger | Christmas sa , betacyanins, diacylated ax buckleyi cactus. betacyanin My rtillocactus Garambullo | Betaxanthine geometrizan Selenicereus ị hanh Thanh | long Betaxanthine. megalanthus | vàng Amaranthus Spiny ¬. Amaranthine, isoamaranthine spinosus amaranth Gomphrena Betaxanthins va một so Amaranthaceae | globosa betacyanin Celosia Rau dén long | Amaranthin and betalamic acid, và cay mong | dan xuat dopamine cua argentea `.
ga betacyanins Vulgaxanthin (I, II),. ¬ as 4p indicaxanthin, betanin, Chenopodiacee | Beta vulgaris | Củ cai do prebetanin, isobetanin, neobetanin, betalamic acid 2.3 Những yếu tô anh hướng đến độ bền mau của betalain Nhiều yếu tô ảnh hưởng đến độ bền mau của betalain. Sự phá hủy betalain xảy ra theo nhiêu cơ chê. Cấu trúc phân tử Ở nhiệt độ phòng (Sapers & Hornstein, 1979) và nhiệt độ đun nóng (Singer & von Elbe, 1980; Herbach và cộng sự, 2004), betacyanin được cho là bền hơn betaxanthin.
So sánh giữa các betacyanin, dạng cấu trúc glycosyl được cho là bền hon cau trúc aglycon, có thé là do khả năng oxi hóa khử cao hơn của cau trúc glycosyl. Một vài nghiên cứu chỉ ra rang độ bền của betacyanin tăng khi ở dạng ester hóa với acid aliphatic, với các acid vòng thơm, nhất là ở vị trí 6-O-glucoside (Azeredo, 2009). pH Mặc dù có sự biến đối điện tích khi có sự thay đổi của pH, phân tử betalain không dé bị thủy phân giống như chất mau anthocyanin. Betalain tương đối bền trong khoảng pH rộng từ 3-7, do đó chất màu có thể được ứng dụng vào các loại thực phẩm acid thấp.
Ở pH thấp hon 3.5, bước sóng hap thu cực đại thay đối về giá trị thấp hon, và trên pH 7 bước sóng hap thu cực dai thay đối về giá trị cao hơn.Nếu pH vượt khỏi phạm vi pH 3.5-7 thì cường độ quang phô khả kiến bị giảm. Betanin có độ bên tôi ưu ở pH 5-6. Môi trường kiềm làm thủy phân liên kết aldimine, trong khi môi trường acid sẽ làm acid betalamic phản ứng với các nhóm amin còn dư (Azeredo, 2009). Cùng với pH một số yếu tô khác cũng ảnh hưởng đến độ bên của betalain, theo Havlikova và cộn g sự (1983) ở nhiệt độ cao pH 6 sẽ lam betacyanin bén hon.
Theo Huang va von Elbe (1987) trong điều kiện yếm khí, betanin bền hon ở pH thấp (4. Hoạt độ nước Độ bền của betalain bị ảnh hưởng theo cấp số nhân bởi hoạt độ nước (a„), là yếu tố quan trọng quyết định khả năng nhạy cảm của liên kết aldimine của chất màu. Kearsley và Katsaboxakis (1980) đã kết luận răng độ bền của betanin tăng khi ay giảm, đặc biệt khi a„<0. Độ bên của betacyanin cũng được cho là tăng lên sau khi sử dụng các phương pháp làm giảm ay như cô đặc hay say phun.
“COOH H | [Colorless] [Yellow] N“ COOH H Hình 2.6: Sự biến đổi betanidin trong môi trườngcó a„ cao (Han, 2004) d. Ánh sáng Theo Attoe và von Elbe (1981), độ bền của betalain và cường độ ánh sáng (trong khoảng 2200-4400 flux) tỉ lệ nghịch với nhau. Sự hấp thụ tia UV hay tia khả kiến đều kích thích các electron x của cấu trúc mang màu trở thành các electron 1 mang nhiều năng lượng hon, va dé phan ứng hon, từ đó dẫn đến sự không 6n định của chất màu. Oxy Betalain có phản ứng với phân tử oxy.
Bảo quản chat màu ở điều kiện hàm lượng oxy thấp sẽ ngăn ngừa phá hủy chất màu hơn so với ở điều kiện khí quyền, do ở điều kiện hạn chế oxy, một phần chất màu bị phá hủy được phục hồi (Azeredo, 2009).