CHƯƠNG 1 TINH HÌNH THỊ TRUONG DO TƯƠNG VIỆT NAM VÀ CÁC NHÂN TO ANH HUONG DEN HOẠT DONG TIEU THU DO TUONG NHAP KHAU CUA CONG TY TNHH HA DUNG GIAI DOAN 2014-2018 1. Tinh hình thị trường đỗ tương Việt Nam giai đoạn 2014-2018 1. Tình hình sản xuất và nhập khẩu đỗ tương trong nước giai đoạn 2014-2018 a. Tình hình sản xuất đỗ tương trong nước giai đoạn 2014-2018 Đỗ tương là cây thực phẩm giàu protein, là thành phần không thể thiếu trong cuộc sống hàng ngày.
Đây không chỉ là nguyên liệu dé chế biến thực phẩm cho con người mà còn là đầu vào của thức ăn chăn nuôi. Nguồn gốc của đỗ tương là từ Dong Nam Á, nhưng hiện nay diện tích và sản lượng đỗ tương trên thế giới lại chủ yếu từ Mỹ (45% và 55%). Ngoài ra, các nước sản xuất đỗ tương lớn khác như Canada, Brasil, Argentina,. Tại Việt Nam, đỗ tương là cây trồng được khuyến khích phát triển, do có lượng tiêu thụ tốt.
Cây đỗ tương là một loại cây dễ trồng, phù hợp với điều kiện tự nhiên tại Việt Nam. Bên cạnh đó, thị trường đỗ tương đang mở rộng, hiện đỗ tương vẫn được đánh giá là nông sản dễ tiêu thụ. Nhu cầu về đỗ tương được chia làm hai loại chính: chế biến thực phẩm cho con người như sữa, bánh kẹo, đậu phụ, tương, dầu ăn,. và chế biến thức ăn chăn nuôi.
Cuối năm 2015, tại hội thảo khoa học quốc tế “Ứng dụng công nghệ cao và đồng bộ cho bảo toàn và phát triển đậu nành Tây Nguyên” tại tỉnh Đắk Nông, đỗ tương trong nước được đánh giá là có độ tươi, ngon, chất lượng và có mùi thơm đặc biệt phù hợp với khẩu vị của người Việt hơn so với đỗ tương nhập khẩu. Vì vậy, cây đỗ tương được nha nước khuyến khích phát triển, kế hoạch đến năm 2020 cả nước trồng đỗ tương lên đến 350 nghìn ha với sản lượng 700 nghìn tan. Tuy nhiên, trong những năm qua, dù có sự hỗ trợ từ phía chính phủ, nhưng đến nay cây đỗ tương vẫn chưa trở thành cây trồng chủ lực. Quy mô sản xuất đỗ tương từ năm 2014 đến 2018 vẫn còn nhỏ so với các cây nông nghiệp khác như ngô, lua.
Trong khi diện tích trồng ngô dao động từ 1,05 đến 1,1 triệu ha thì diện tích trồng đỗ tương trong 5 năm qua chỉ từ 60 đến 115 nghìn ha. Trong giai đoạn 2014-2018, quy mô và sản lượng đỗ tương có xu hướng giảm dần. Năm 2014, diện tích trồng đỗ tương là 111,2 nghìn ha và sản lượng đạt 160 nghìn tan. Đến năm 2018, diện tích trồng đỗ tương trên cả nước chỉ còn 58,5 nghìn ha giảm 10 nghìn ha so với năm 2017 (bằng 84,5%) và giảm 52,7 nghìn ha so với năm 2014 (bằng 52,6%).
Về sản lượng, năm 2018, sản lượng đỗ tương là 91 nghìn tắn, giảm 11,3 nghìn tấn so với 2017 và gần 70 nghìn tan tương đương giảm 43,75% so với 2014. ——niện tích (ha) 80 —m—sản lượng (tan) | 2017 Hình 1.1 : Quy mô và sản lượng đỗ tương giai đoạn 2014-2018 Nhìn chung, quy mô sản xuất đỗ tương tại Việt Nam ngày càng sụt giảm nguyên nhân là do. Thứ nhất, nhận thức và quan niệm của ngưởi dân về cây đậu tương chưa thay đổi. Người dân bao giờ cũng ưu tiên trồng các cây lương thực, các loại hoa mầu như lạc, ngô, sắn chứ không phải đỗ tương, vì họ cho rằng đỗ tương chỉ là cây trồng phụ.
trông xem cây khác, vì vậy mà khó tạo thành vùng sản xuất lớn. Thứ hai, kỹ thuật trồng đậu tương còn chưa phát triển dẫn đến năng suất thấp. Trong khi ở Mỹ năng suất trung bình mỗi vụ mùa là 2,7 tắn/ha, bình quân cả thế giới là 2,3 tan/ha thì tại Việt Nam, năng suất bình quân chi là 1,5 tan/ha. Mà theo tính toán, để sản xuất đỗ tương có lãi cần năng suất trên 2 tắn/ha.
Điều nay dẫn đến người nông dân không muốn trồng đỗ tương mà chuyền sang các cây trồng khác có hiệu quả kinh tế cao như cà phê, hồ tiêu, ngô. Thứ ba, là do kỹ thuật thu hoạch, bảo quản và tiêu thụ chưa được chú ý làm cho hiệu quả sản xuất giảm, giá bán thì cao. Trong khi dé tương nhập khẩu sau khi trừ các khoản phí như thuế, cước phí vẫn thấp hơn đỗ tương trong nước 2-3 nghìn đồng/kg. Tình hình nhập khẩu đỗ trong trong nước giai đoạn 2014-2018 Theo thống kê từ Tổng cục Hải quan.
nhập khâu đậu tương cả nước từ năm 2014-2018 có xu hướng không ồn định, theo quy luật năm trước tang, năm sau giảm Bang 1.1: Kim nghạch nhập khẩu đỗ tương theo thị trường Việt Nam giai đoạn 2014-2018 | 2014 2015 | 2016 2017 2018 T | Tênnước | Gidtri | Ti | Giati | Ti Giatri | Ti | Giám | Tỉ | Gidtri (nghìn | trọng (nghìn | trọng (nghìn | trọng (nghìn | trọng (nghìn trọng tan) | (%) | tấn | (%) | tấn | (%) | tấn | (%) | tấn | © ¡ | Brazil 53488 | 34,5 |ó87 |402 |3299 |213 | 6148 |374 |3238 | 17.7 7 My 6978 | 446 | 660 |387 |9868 | 638 | 7695 | 467 | 1330 | 729 3 | Canada| 65,6 laa [1079 63 | 881 |5,7 | 1937 nr 1267 | 7 4 | Argentina | 151,6 | 27 1758 | 103 | 9,4 06 |24 |02 i 5 | Khác 1102 |7 | 763 |45 | 132 86 1656 139 |439 | 4 Tổng 1564 |100 |1707 |100 |15462 |100 |1646 | |100 | 18244 | 199 (Nguôn: Tổng cục hải quan, Tìhong kê hải quan giai đoạn 2014-2018) Quy luật chăn lẻ trong nhập khẩu đỗ tương nghĩa là một năm được mùa, năm sau mât mùa. Điêu đó đông nghĩa, năm trước khôi lượng nhập khâu nhiêu thì năm sau sẽ nhập ít hơn. Theo số liệu từ tổng cục thống kê, trong giai đoạn 2014-2018, kim ngạch nhập khẩu năm 2018 đạt giá trị cao nhất 1824.4 nghìn tắn, tăng 10,8% so với năm 2017, dù 2017 được coi là một năm “được mùa” theo quy luật. Trong đó nhập khẩu từ Mỹ chiếm gan 73%, 17,7% từ Brazil và còn lại đến từ các quốc gia khác.
Day van là hai quốc gia cung cấp đỗ tương chính cho Việt Nam. Nguyên nhân của sự tăng đột ngột về sản lượng nhập là do ảnh hưởng từ cuộc chiến tranh thương mại Mỹ- Trung Quốc. Sau khi Hoa Kỳ áp dụng mức thuế 50 tỷ USD cho hàng hóa Trung Quốc, Trung Quốc đáp trả bằng cách, áp đặt thuế đối với 128 sản phẩm từ Mỹ lên đến 25%, trong đó có đỗ tương. Khi đó, đậu tương và thịt heo Mỹ được đánh giá là “nạn nhân” lớn nhất, bởi Trung Quốc lâu nay vẫn là nước nhập khẩu mạnh hai nông phẩm này từ Mỹ.
Vì vậy, Mỹ cần tìm đầu ra mới cho đỗ tương. Đây là cơ hội để các nhà đầu tư Việt Nam mau đỗ tương với giá hời. Thực tế, Việt Nam đang mua đỗ tương từ Mỹ giá rẻ hơn nhiều so với từ Brazil và Canada. Trong khi nhập khâu đỗ tương từ Mỹ đạt trung bình 413,6 USD/tắn thì nhập khẩu từ Brazil và Canada lần lượt là 445 và 477 USD/tan 1.
Nhu cầu sử dụng đỗ tương giai đoạn 2014-2018 Dù có năng suất thấp hơn so với đỗ tương nhập khẩu, tuy nhiên đỗ tương trong nước được đánh giá là có độ tươi và hợp khẩu vị của người Việt Nam hơn. Do vậy, đỗ tương sản xuất trong nước được dùng để làm đầu vào cho các thực phẩm cho con người như đậu hũ, sữa, bánh kẹo và số ít dùng cho sản xuất nước tương,. Còn đỗ tương nhập khẩu thường sử dụng cho việc ép dầu, ngoài ra còn để sản xuất thức ăn chăn nuôi. Theo báo cáo của AC Nielsen, năm 2014 trung bình một người tại Việt Nam tiêu thụ 6,8 lít sữa đậu nành tương đương với cả nước tiêu thụ khoảng 613 triệu lí/năm, đứng thứ 3 trên thế giới chỉ sau Trung Quốc và Thái Lan và có xu hướng ngày càng tăng.
Cũng trong Hội thảo Khoa học Quốc tế “Ứng dụng công nghệ cao và đồng bộ cho bảo toàn và phát triển đậu nành Tây Nguyên” cuối năm 2015, mười ba quốc gia như Mỹ, Nhật Bản, Hàn Quốc, Canada, Anh, Úc,. đã khuyến nghị sử dụng đỗ tương vào chương trình lương thực quốc gia. Điều này dẫn đến nhiều doanh nghiệp mạnh dạn đầu tư xây dụng nhà máy sữa đậu nành trong đó phải kế đến các ông lớn như Vinamilk, Nutifood và tập đoàn Hoàng Anh Gia Lai bắt đầu gia nhập chế biên sữa đậu nành. Cũng vi vậy mà nhu câu về nguyên liệu đỗ tương tăng mạnh.
Bên cạnh dùng dé chế biến sữa, thì ngành chế biến thức ăn chăn nuôi cũng ngày càng phát triển. Mặc dù so với năm 2015, nhu cầu về TACN có giảm sút, tuy nhiên từ năm 2016-2018, nhu cầu về TACN có xu hướng phục hồi và ngày càng phát triển. Mà ngô và đỗ tương là nguyên liệu chiếm 60% của TACN. Trải qua sự sụt giảm vào năm 2016, nhu cầu về TACN từ 34,2 xuống còn 29,1 tương đương với tốc độ tăng trưởng giảm 14,9 %.
Nguyên nhân là do, năm 2016, ngành chăn nuôi lợn đối mặt với cuộc khủng khoảng khi mà giá thịt lợn giảm xuống dưới giá thành, khiên nhiêu nông dân chăn nuôi phải dời bỏ ngành, từ đó nhu câu về TACN cũng giảm. Thì sang đến năm 2017, 2018 nhu cầu về TACN có xu hướng tăng trở lạ và tăng đều 3% mỗi năm. Và theo dự báo từ USDA Post thì tốc độ này sẽ tiếp tục duy trì năm 2019. Day là dấu hiệu tốt cho thấy, doanh nghiệp có thé tiêu thụ đỗ tương tốt hơn.2:Téng nhu cầu TACN Việt Nam năm 2016-2018 Sản xuât công nghiệp Thức ăn chăn nuoi Thức ăn thủy Thức ăn chăn nuôi (nguon: tự tính toán từ webFAS-VN) http://agro.vn/vn/tID26346 Bao-cao-nganh-thuc-an-chan-nuoi-Viet- Nam-nam-2018.
Nhận xét chung về thị trường đỗ tương tại Việt Nam giai đoạn 2014-2018 Nhìn chung, giai đoạn 2014-2018, nhu cầu về đỗ tương ngày càng tăng, đặc biệt trong 2 năm gan đây, nhu cầu về đỗ tương tăng 6%/năm ( theo báo cáo của USDA). Chúng ta có thể thấy, lượng đỗ tương nhập khẩu qua các năm gấp 10 đến 20 lần lượng đỗ tương sản suất được trong nước. Trong khi đó, lượng cung trong nước không đủ dé đáp ứng nhu cầu, vì vậy, việc nhập khẩu đỗ tương là điều tat yếu. - Thuận lợi: Nhìn vào thị trường đỗ tương giai đoạn 2014- 2018, ta có thể thấy một vài điểm thuận lợi.
Thứ nhất, nhu cầu về đỗ tương ngày càng tăng mạnh trong giai đoạn 2014- 2018 và có xu hướng phát triển mạnh, đây là cơ hội tốt để Công ty mở rộng thị trường tiêu thụ. Bên cạnh đó nhà nước có chính sách hỗ trợ đối với thuế nhập khâu đỗ tương là nguyên liệu đầu vào là 0%.