CHƯƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÈ HOẠT ĐỌNG THU HÚT KHÁCH MICE TẠI KHÁCH SẠN 1. TONG QUAN VE HOAT DONG KINH DOANH KHACH SAN 1. Khái niệm về kinh doanh khách sạn Ngành kinh doanh du lịch ban đầu chỉ nhằm mục đích đảm bảo chỗ nghỉ qua đêm cho khách và có trả tiền.
Tuy nhiên, đời sống vật chất ngày càng được nâng cao. thì con người ngày càng sử dụng nhiều sản phẩm dịch vụ ở mức cao hơn. Nhằm đáp ứng nhu cầu của cao của khách hàng nên đã có nhiều khách sạn được xây dựng và đi vào hoạt động với nhiều thứ hạng. Theo giáo trình “Quản trị kinh doanh khách sạn” của trường Đại học Kinh tế Quốc dân.
NXB LÐ - XH, đồng chủ biên của TS Nguyễn Văn Mạnh và ThS Hoàng Thị Lan Huong [7 tr12] có viết: “Kinh doanh khách sạn là hoạt động kinh doanh trén co so cung cdp các dịch vụ lưu trú, ăn uống và các dịch vụ bồ sung cho khách nhằm đáp ứng các nhu cầu ăn uống, nghỉ ngơi và giải trí của họ tại các điểm du lịch nhằm mục đích có lãi" 1. Đặc điểm về kinh doanh khách san: “Kinh doanh khách sạn phụ thuộc vào tài nguyên du lịch tại điểm đến du lịch: Kinh doanh khách sạn chỉ có thể được tiến hành thành công ở những nơi có tài nguyên du lịch, bởi lẽ tài nguyên du lịch là yếu tô thúc đẩy, thôi thúc con người đi du lịch. Tài nguyên du lịch có ảnh hưởng rất lớn đến hoạt động kinh doanh của khách sạn. Mặc khác, khả năng tiếp nhận của tài nguyên du lịch ởmỗi điểm du lịch sẽ quyết định đến quy mô của khách sạn cũng như đặc điểm về cơ sở vật chất kỹ thuật của khách sạn ”.
(Giáo trình “Quản trị kinh doanh khách sạn” của trường Đại học Kinh tế Quốc dân. NXB LĐ - XH, đồng chủ biên của TS Nguyễn Văn Mạnh và ThS Hoang Thi Lan Hương [7 tr 24]). Kinh doanh khách sạn đòi hỏi dung lượng vốn đầu tư lớn. Chi phí ban đầu cho việc đầu tư khách sạn là cao, ngay cả về chỉ phí mặt bằng đất đai lẫn cơ sở vật chất kỹ thuật.
Nếu khách sạn nào có vón đầu tư lớn thì yêu cầu chất lượng của sản phim trong khách sạn cao, các yêu cầu về cơ sở vật chất kỹ thuật cũng phải cao. Tức là chất lượng của cơ sở của vật chất kỹ thuật của khách sạn tăng lên cùng với sự tăng lên của thứ hạng khách sạn. Kinh doanh khách sạn đòi hỏi dung lượng lao động trực tiếp tương đối lớn. Vì sản phẩm khách sạn chủ yếu mang tính chất phục vụ và sự phục vụ này không thể cơ giới hóa được mà chỉ được thực hiện bởi những nhân viên phục vụ trong khách sạn.
Mặt khác, lao động trong khách sạn có tính chuyên môn hóa cao. Thời gian lao động lại phụ thuộc vào thời gian tiêu dùng của khách. Kinh doanh trong khách sạn mang tính quy luật: kinh doanh khách sạn chịu sự chỉ phối của một số quy luật như: quy luật tự nhiên, quy luật kinh tế - xã hội, quy luật tâm lý của con người. Dù chịu chỉ phối của quy luật nào đi nữa thì cũng gây ra những tác động tiêu cực và tích cực đối với kinh doanh khách sạn.
Các loại hình dịch vụ trong khách sạn Theo giáo trình “Quản trị kinh doanh khách sạn” của trường Đại học Kinh tế Quéc din. NXB LD — XH, déng chủ biên của TS Nguyễn Văn Mạnh và ThS Hoàng Thị Lan Hương, [7 tr 20] có viết: “Sản phẩm khách sạn gdm có hai bộ phận đó là hàng hóa và dịch vụ. Hàng hóa là những sản phẩm tôn tại dưới dạng hình thái vật chất cụ thể nhìn thấy được, đo lường được, phân biệt qua các giác quan của con người. Còn dịch vụ là những thứ không ton tại dưới dạng hình thái vật chất, không thể nhìn ngắm, sở mó được, không thể cân đo đong đếm được, nó mang tính vô hình ”.
Trong kinh doanh khách sạn dịch vụ bao. gồm ba dịch vụ chính, đó là: s* Dịch vụ lưu trú: Là hoạt động ngoài lĩnh vực sản xuất vật chất, cung cấp các dịch vụ cho thuê buồng ngủ và các dịch vụ bổ sung khác cho du khách trong thời gian lưu lại tại các điểm du lịch nhằm có lãi. Đây là hoạt động kinh doanh cơ bản của khách sạn, dịch Vụ này gắn liền với phục vụ về lưu trú tại khách sạn. s* Dịch vụ ăn uống: Bao gồm các hoạt động chế biến thức ăn, đồ uống Và cung cấp các dịch vụ khác nhằm thỏa mãn về nhu cầu ăn uống và giải trí tại khách sạn cho du khách nhằm mục đích có lãi.
Nội dung của hoạt động kinh doanh ăn uống được thực hiện qua các chức nang sau: + Hoạt động sản xuất vật chất: Là chức năng chế biến ra các loại món ăn, đồ uống để phục cho khách. + Hoạt động lưu thông: Là chức năng lưu thông bán các sản phẩm do chính khách sạn sản xuất ra hoặc các sản phẩm chuyên bán do các ngành khách sản xuất + Hoạt động tổ chức phục vụ: Tạo điều kiện với tiện nghỉ đầy đủ để khách hàng tiêu thụ sản phẩm. s* Dịch vụ bổ sung (dịch vụ bổ sung thông thường và dịch vụ vui chơi giải trí): Trong đó dịch vụ thông thường đi kèm với dịch vụ chính và dịch vụ bể sung, chia làm hai loại là dịch vụ bổ sung bắt buộc và địch vụ bố sung không bắt buộc. Dịch vụ buồng ngủ, thông thường các khách sạn dù có cấp sao cao hay thấp, có hay không có sao cũng đều cung cấp hai loại buồng phòng chính là dịch vụ buồng đơn và dịch vụ buông đôi.
Tuy nhiên, tùy thuộc vào trang thiết bị trong buồng phòng và vị trí của buồng phòng mà các nhà kinh doanh sẽ phân ra làm các loại, hạng buông phòng loại 1, loại 2, loại đặc biệt. để căn cứ vào đó đưa ra các mức giá bán phù hợp cho từng buồng phòng cu thé. Dịch vụ ăn uống cũng là một dịch vụ chính và có vai trò, ý nghĩa quan trọng trong kinh doanh khách sạn. Nó có tỷ trọng doanh thu đứng sau doanh thu lưu trú và cao hơn doanh thu dịch vụ bổ sung.
Các khách sạn ở nước ta hiện nay đang đây mạnh dịch vụ này trong kinh doanh khách sạn. Các khách sạn chú trọng rất lớn đến loại dịch vụ này vì không chỉ phục vụ cho khách ngủ mà còn dùng để nhậ tổ chức các buổi họp, đám cưới, tiêc, liên hoan. có ý nghĩa rất quan trọng đến van dé gay uy tín trên thị trường và mở rộng thị trường kinh doanh. Thông thường trong các khách sạn có hai loại dịch vụ ăn uống chính.
Đó là dịch vụ ăn uống tại quầy ăn, nhà ăn và dịch vụ ăn uống tại buông phòng theo yêu cầu của khách với đủ ba bữa ăn chính trong ngày. Dịch vụ bổ sung: Đây là các dịch vụ, bổ trợ thường xuyên đi kèm với các dịch vụ chính hoặc giúp khách hàng thư giản, vui chới, giải trí để khôi phục sức khỏe trong lúc nghỉ. Như các dịch vụ vui chơi thể thao, ca hát, massage, thẩm mỷ. Ngày nay việc xếp loại hạng khách sạn ngoài căn cứ vào các dịch vụ, trang thiết bị, cơ sở vật chất, kỹ thuật, vị trí còn căn cứ ngày càng nhiều vào số lượng và quản lý chất lượng các dịch vụ bổ sung mà khách sạn có để xếp hạng khách sạn.
Tuy nhiên, với tình hình kinh tế xã hội của nước ta hiện nay thì việc kinh doanh khách sạn vẫn chủ yếu nhờ vào doanh thu từ dịch vụ lưu trú (thông thường chiếm khoảng 40% tổng doanh thu khách sạn), Sản phẩm của khách sạn chia làm 2 lo; - Sản phẩm hàng hoá: Là những sản phẩm mang tính vật chất mà khách sạn tự làm ra hoặc do khách sạn đi mua lại như: Đồ ăn, thức uống, văn phòng phẩm. để phục vụ nhu cầu cho khách lưu trú. Những sản phẩm này sau khi trao đổi sẽ thuộc về người trả tiền. Trong sản phẩm hàng hoá của khách sạn thì đồ lưu niệm là những mặt hàng thủ công mỹ nghệ, mặt hàng truyền thống có giá trị văn hoá cao, mang đậm dấu ấn nơi du khách đến.
Nếu khách sạn khai thác tốt mặt hàng này thì sẽ đạt hiệu quả cao không những về mặt doanh thu mà còn tạo được ấn tượng cho du khách và có sức cuốn hút họ quay trở lại. - Sán phẩm dịch vụ: Bao gồm những đối tượng được bán ra dưới biểu hiện là ích lợi hay sự thoả mãn của người tiêu dùng, đối với kinh doanh khách sạn là sự thoả mãn của khách lưu trú tại khách sạn. Thông thường người ta chia dịch vụ làm các dạng cơ bản sau: Dịch vụ cơ bản: Là những thoả mãn lợi ích cốt lõi mà khách hàng có nhu cầu. Đây chính là động cơ đề người mua tìm đến tiêu dùng sản phẩm của doanh nghiệp.
Trong kinh doanh khách sạn thì dịch vụ cơ bản ở đây chính là dịch vụ lưu trú , dịch vu ăn uống “+ Dich vu bé sung: Dich vụ bổ sung là những dịch vụ được hình thành nhằm tăng thêm giá trị cung cấp cho khách hàng, bỗ sung cho dịch vụ cơ bản tăng thêm lợi ích cốt lõi. Dịch vụ bổ sung trong khách sạn có rất nhiều loại như: dịch vụ vui chơi giải trí, giặt là, cung cấp thông tin. tuỳ thuộc vào từng khách sạn khác nhau mà yêu cầu về dịch vụ bổ sung cũng có khác nhau. Ý nghĩa của kinh doanh khách sạn Giáo trình “Quản trị kinh doanh khách sạn” của trường Đại học Kinh tế Quốc dân.
NXB LD — XH -2008 của TS Nguyễn Văn Mạnh và ThS Hoàng Thị Lan Hương [7 tr27] có viết: 1. Ý nghĩa kinh tế: “Kinh doanh khách sạn là một trong những hoạt động chính của ngành du lịch và thực hiện những nhiệm vụ quan trọng của ngành. Mới liên hệ giữa kinh doanh khách sạn và ngành du lịch của một quốc gia không phải là quan hệ một chiều mà ngược lại, kinh doanh khách sạn cũng tác động đến sự phát triển của ngành du lịch và đời sống kinh tế - xã hội nói chung của một quốc gia ”. Thông qua kinh doanh lưu trú và ăn uống của các khách sạn, một phần trong quỹ tiêu dùng của người dân được sử dụng vào việc tiêu dùng các dịch vụ và hàng hóa của các doanh nghiệp khách sạn tại điểm du lịch.
Các khách sạn là bạn hàng lớn của nhiều ngành khác trong nền kinh tế , vi hàng ngày các khách sạn tiêu thụ một khối lượng lớn các sản phẩm của nhiều ngành như: các ngành công nghiệp nặng, công nghiệp thực phẩm, ngành ngân hàng, ngành thủ công mỹ nghệ.