Mở Đầu I.Tính cấp thiết của đề tài; Tuyên bố đề tài nghiên cứu Trong thời buổi hiện nay, khi du lịch không chỉ trở thành hiện tượng phổ biến mà còn trở thành ngành kinh tế mũi nhọn, cũng như mang lại nguồn thu về tài chính đáng kể cho nhiều quốc gia, và vùng lãnh thổ trên toàn thế giới. Theo số liệu thống kê của Tổng cục Du lịch Việt Nam, doanh thu từ các hoạt động dịch vụ, du lịch tăng cao do số lượng khách du lịch nội địa và quốc tế liên tục tăng trong mùa cao điểm. Khách quốc tế đến Việt Nam tháng 7/2023 ước đạt hơn 1 triệu lượt người, tăng 6,5% so với tháng trước và gấp 2,9 lần cùng kỳ năm trước; tính chung 7 tháng năm 2023, khách quốc tế đến nước ta ước đạt hơn 6,6 triệu lượt người, gấp 6,9 lần. Như vậy, chỉ sau 7 tháng, ngành du lịch Việt Nam đã đạt 83% kế hoạch cả năm về đón khách quốc tế, nhiều khả năng sẽ sớm hoàn thành mục tiêu và còn nhiều dư địa để tiếp tục tăng trưởng khi bước vào mùa cao điểm du lịch quốc tế cuối năm.
Khách nội địa tháng 7/2023 ước đạt 12,5 triệu lượt, trong đó có 8,3 triệu lượt khách có lưu trú. Tổng số khách nội địa trong 7 tháng năm nay ước đạt 76,5 triệu lượt người; tổng thu từ khách du lịch ước đạt 416,6 nghìn tỷ đồng. Năm 2023, du lịch Việt Nam đề ra mục tiêu đón 110 triệu lượt khách du lịch, trong đó khoảng 8 triệu lượt khách quốc tế, khách du lịch nội địa khoảng 102 triệu lượt; tổng thu từ khách du lịch khoảng 650 nghìn tỷ đồng. Đến thời điểm này có thể nói kỳ vọng về lượng khách có thể đạt được.
Tuy nhiên ngành du lịch Việt Nam cũng đang đối diện với nhiều thách thức khi nền kinh tế thế giới bị ảnh hưởng bởi xung đột Nga – Ukraine, dẫn đến khách du lịch hầu hết thắt chặt chi tiêu. Bên cạnh đó, Việt Nam chưa có nhiều sản phẩm du lịch hấp dẫn, ngành du lịch đang chuyển đổi, đang phát triển nên chất lượng còn hạn chế, chủ yếu cung cấp các sản phẩm dịch vụ hiện đang có mà chưa chú trọng đáp ứng sản phẩm, dịch vụ mà du khách cần. Sự liên kết giữa các nhà cung cấp dịch vụ du lịch còn hạn chế; mức chi tiêu của khách du lịch hằng năm tăng chậm, phần lớn chi tiêu là dành cho các dịch vụ như ăn uống, đi lại, lưu trú. Một trong những chỉ đạo của Chính phủ trong thời gian tới là “Phát triển du lịch Việt Nam phải đặt trong tổng thể phát triển du lịch của thế giới và khu vực, có tính liên kết cao, bổ trợ lẫn nhau, đồng thời chủ động trước những tình huống đột xuất, bất ngờ.
Phát triển du lịch trong giai đoạn mới phải chú trọng tính chuyên nghiệp, hiện đại, theo chuẩn mực quốc tế nhưng cũng đa dạng, độc đáo, riêng có; kiên định mục tiêu nhưng phải hết sức linh hoạt, thích ứng, đổi mới, sáng tạo, gắn kết chặt chẽ với quá trình chuyển đổi số”. Ngoài những lợi ích về mặt kinh tế như đã nêu trên, du lịch còn tạo ra nhiều công ăn việc làm, thúc đẩy phát triển các ngành dịch vụ nói chung, phát triển cơ sở hạ tầng và còn là phương tiện hữu ích để thúc đẩy hòa bình, giao lưu văn hoá, hội nhập giữa bản sắc văn hóa trên phương diện quốc tế; từ đó tạo ra những giá trị vô hình nhưng mang tính bền chặt. Trong khi đó,ngoài những lợi ích mà du lịch hiện nay đang có thì tính cạnh tranh giữa các điểm đến ngày càng trở nên gay gắt hơn và du khách ngày càng có nhiều quyền được lựa các chọn điểm du lịch hay sản phẩm, dịch vụ mà họ mong muốn. Vì thế, các cơ sở quản lý khu du lịch và điểm đến nên đề ra những chính sách phù hợp trên cơ sở tìm hiểu nhu cầu, mong muốn chung hiện nay đển nắm bắt được hành vi của du khách dựa vào đánh giá của họ về một điểm đến du lịch nhất định.
Có thể nói, quyết định lựa chọn điểm đến du lịch là một trong những vấn đề mang tính cốt lõi và quan trọng nhất trong hành vi tiêu dùng du lịch. Đối với một thị đất nước có thị trường du lịch đang diễn ra sôi nổi như Việt Nam, sự cần thiết của việc nghiên cứu về các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định lựa chọn điểm đến là điều kiện tiên quyết vì nó cung cấp một cái nhìn rõ ràng, tổng quan hơn về những gì khách du lịch đang tìm kiếm đối với các điểm đến ở nước ta. Các kiến thức về hành vi quyết định lựa chọn điểm đến rất thiết thực đối với các nhà tiếp thị du lịch trong việc phát triển các sản phẩm và dịch vụ du lịch mới, du lịch xanh qua đó góp phần xây dựng các chính sách và kế hoạch marketing đạt hiệu quả, từ đó nâng cao hình ảnh điểm đến của du lịch Việt Nam nhằm thu hút nguồn khách du lịch đặc biệt là khách du lịch trẻ. Giới trẻ hiện nay đang ngày càng có những nhận thức tích cực về hoạt động đi du lịch.
Đối với họ, du lịch không còn chỉ để trải nghiệm, thư giãn mà còn là cơ hội để học hỏi, khám phá thậm chí còn để chinh phục nhiều điều mới mẻ và bí ẩn của thế giới xung quanh. Do vậy, việc ra quyết định lựa chọn một điểm đến du lịch phù hợp cũng được đối tượng khách du lịch này cân nhắc rất kỹ lưỡng. Xuất phát từ những lý thuyết và vấn đề mang tính phổ cập trên, nhóm em đã bàn luận và quyết định nghiên cứu về đề tài: “Nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định lựa chọn điểm đến du lịch của sinh viên trường Đại học Thương Mại ”. Qua bài nghiên cứu này, nhóm nghiên cứu mong muốn có thể góp sức phát hiện ra những yếu tố tác động đến quyết định lựa chọn điểm đến du lịch của đối tượng được nghiên cứu là sinh viên trường Đại học Thương Mại.
Từ đó, đề xuất ra những sáng kiến cũng như định hướng mới cho các nhà tiếp thị du lịch trong việc xây dựng và áp dụng các chiến dịch quảng bá điểm đến cho đối tượng khách du lịch là thế hệ sinh viên. Các kiến thức về hành vi quyết định lựa chọn điểm đến rất thiết thực đối với các nhà tiếp thị du lịch trong việc phát triển các sản phẩm và dịch vụ du lịch mới, xây dựng các chính sách và kế hoạch Marketing đạt hiệu quả, góp phần nâng cao giá trị hình ảnh điểm đến của du lịch Việt Nam nhằm thu hút nguồn khách du lịch đặc biệt là khách du lịch trẻ .Tổng quan nghiên cứu: Nghiên cứu về đề tài các yếu tố tác động đến quyết định lựa chọn địa điểm du lịch đã được nghiên cứu từ nhiều nơi cả trong nước và nước ngoài : Điển hình như các nghiên cứu sau : STT Tên đề tài Tên tác giả Năm nghiên Đóng góp của bài nghiên cứu cứu 1 Nghiên cứu Ts. Nguyễn 2020 Nghiên cứu này là một vấn đề quan trọng, có ý nghĩa các nhân tố ảnh Hoàng Đông đối với các ban quản lý du lịch hưởng đến và các doanh nghiệp hoạt dộng trong lĩnh vực du lịch. quyết định lựa Kết quả nghiên cứu chỉ ra, du chọn địa điểm khách Hàn Quốc lựa chọn du lịch Hàn Miền Trung ( Việt Nam) đi du lịch được thúc đẩy bởi nhiều Quốc: Trường nhân tố thuộc về động cơ đẩy hợp điểm đến và động cơ kéo.
Tác giả đã quyết định đưa vào mô hình miền Trung phân tích hồi quy gồm 10 biến Việt Nam độc lập như sau: H1: Kiến thức và khám phá H2: Giải trí và thư giãn H3: Văn hóa và tôn giáo H4: Gia đình và bạn bè H5: Tự hào về chuyến đi H6: An toàn cá nhân H7: Thông tin về điểm đến H8: Đặc trưng của điểm đến H9: Chi phí cho chuyến đi H10: Lịch trình chuyến đi hợp lý và thuận tiện Với mức ý nghĩa của một số thành phần với p < 0.05, bao gồm: Giải trí và thư giãn (H2), đặc trưng của điểm đến (H8), Vấn đề tài chính (H9) và Thông tin về điểm đến (H7). Tuy nhiên, biến thông tin về điểm đến (H7) có trị số hồi quy mang dấu âm, trong khi đó kết quả phân tích hệ số tương quan lại mang dấu dương. Do vậy, trường hợp này biến độc lập này sẽ bị loại bỏ (Falk và Miller, 1992). Do đó, ta có thể nói rằng chỉ một số thành phần trong các nhân tố ảnh hưởng có ý nghĩa trong mô hình và tác động cùng chiều đến sự sự lựa chọn điểm đến của khách du lịch Hàn Quốc.
Giá trị hồi quy chuẩn hóa của các biến độc lập trong mô hình có giá trị báo cáo lần lượt là: Đặc trưng của điểm đến (H8) 0.537; Giải trí và thư giãn (H2) 0.311; Vấn đề tài chính (H9) 0. Mô hình trên giải thích được 70.0% sự thay đổi của biến Sự lựa chọn điểm đến là do các biến độc lập từ mô hình tạo ra, còn lại 30.0% biến thiên được giải thích bởi các yếu tố khác nằm ngoài mô hình. Qua kết quả giá trị hồi quy chuẩn hóa (Standardized Coefficients Beta) cho ta biết tầm quan trọng của từng biến độc lập đối với biến phụ thuộc. Cụ thể hơn, giá trị hồi quy chuẩn hóa của đặc trưng của điểm đến ảnh hưởng 53.7% đến quyết định lựa chọn điểm đến của khách du lịch; giải trí và thư giãn ảnh hưởng 31.1% đến quyết định lựa chọn điểm đến của khách du lịch; Vấn đề chi phí chuyến đi ảnh hưởng 18.3% đến quyết định lựa chọn điểm đến của khách du lịch.
Các biến khác còn lại trong mô hình có mức độ tác động thấp hoặc không có ảnh hưởng đến Quyết định lựa chọn điểm đến của khách du lịch. Kết quả kiểm định mô hình và giả thuyết nghiên cứu cho thấy, các nhân tổ ảnh hưởng được đề xuất trong mô hình giải thích được 70% sự lựa chọn điểm đến Miền Trung của du khách Hàn Quốc. Trong đó, Đặc trưng của điểm đến ảnh hưởng lớn nhất, tiếp đến lần lượt là Giải trí và thư giãn, chi phí của chuyến đi. Các nhân tố còn lại trong mô hình có mức độ ảnh hưởng thấp hoặc không có ảnh hưởng đến Quyết định lựa chọn điểm đến Miền Trung, Việt Nam của khách du lịch Hàn Quốc.
Từ kết quả này là cơ sở khoa học để đề xuất các giải pháp và khuyến nghị nhằm nâng cao khả năng thu hút khách du lịch Hàn Quốc tới các địa điểm du lịch Việt Nam.