Tổng quan luận án

Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu

Trong bối cảnh cạnh tranh toàn cầu giữa các điểm đến du lịch ngày càng gia tăng, các quốc gia và tổ chức quản lý điểm đến (Destination Management Organization - DMO) đã xem việc xây dựng thương hiệu điểm đến là công cụ tiếp thị then chốt nhằm gia tăng năng lực cạnh tranh (Morgan, Pritchard, và Pride, 2007; Kavaratzis và Ashworth, 2006). Hoạt động xây dựng thương hiệu chỉ được coi là thành công khi được khách du lịch đánh giá là có ý nghĩa (Dedeoglu và cộng sự, 2019; Cano Guervos và cộng sự, 2020). Do đó, việc giải mã tài sản thương hiệu điểm đến dựa trên khách hàng (Customer-Based Brand Equity - CBBE) đóng vai trò trung tâm để đo lường, theo dõi phản ứng của du khách và kích thích ý định quay trở lại (Bianchi và Pike, 2011; Konecnik và Gartner, 2007).

Về mặt thực tiễn tại Việt Nam, dù ngành du lịch được xác định là ngành kinh tế mũi nhọn (theo Nghị quyết số 08-NQ/TW của Bộ Chính trị và Chiến lược phát triển du lịch Việt Nam đến năm 2030), thương hiệu du lịch quốc gia vẫn đối mặt với nhiều hạn chế. Năm 2019, Việt Nam xếp thứ 14 ở châu Á trong bảng xếp hạng Thương hiệu quốc gia của Bloom Consulting và D2 Digital Demand, đứng sau Thái Lan, Singapore và Malaysia. Nhận thức của khách du lịch về thương hiệu điểm đến Việt Nam chưa cao, hình ảnh chưa phân biệt rõ ràng và chất lượng cảm nhận chưa tương xứng với kỳ vọng. Thống kê của Tổng cục Du lịch Việt Nam (VNAT) cho thấy tỷ lệ khách quốc tế quay trở lại rất thấp: năm 2013 có 66,1% khách đến lần đầu, 20,1% đến lần hai và 13,8% đến lần ba; năm 2014, tỷ lệ quay lại trong một năm chỉ chiếm 11,2% (lần hai chiếm khoảng 6%, lần ba hơn 3%, lần thứ tư còn 2%); đến năm 2017, tỷ lệ khách quốc tế không quay trở lại lên đến 80% (trong khi tỷ lệ quay lại của Thái Lan là 82% và Singapore là 89%). Sau đại dịch Covid-19, sự phục hồi khách quốc tế của Việt Nam (năm 2020: 3,7 triệu lượt; 2021: 14.900 lượt; 2022: 3,66 triệu lượt) chậm hơn đáng kể so với Thái Lan (11,15 triệu lượt năm 2022), Malaysia (~10 triệu lượt) và Singapore (6,31 triệu lượt).

Từ thực tiễn đó, luận án xác định ba khoảng trống học thuật:

  1. Nghiên cứu tài sản thương hiệu điểm đến ít hơn về số lượng và kém phong phú hơn so với tài sản thương hiệu sản phẩm hàng hóa (Vinh và cộng sự, 2017). Các mô hình hiện có chưa đạt được sự đồng thuận về số lượng và bản chất mối quan hệ giữa các thành tố cấu thành (Tasci, 2018; Cano Guervos và cộng sự, 2020). Rất ít công trình kết hợp tổng quan tài liệu có hệ thống (systematic review) với phân tích tổng hợp (meta-analysis) để kiểm chứng các mối quan hệ này.
  2. Việc giải thích ý định quay trở lại điểm đến thường chỉ sử dụng đơn lẻ các biến số như sự hài lòng, chất lượng cảm nhận hay lý thuyết hành vi có kế hoạch (TPB). Rất ít nghiên cứu tích hợp đa thành phần của tài sản thương hiệu điểm đến và góc nhìn của du khách nước ngoài để giải thích toàn diện quá trình ra quyết định du lịch (Zhang và cộng sự, 2021).
  3. Thiếu vắng các công trình tích hợp đồng thời tài sản thương hiệu, tìm kiếm sự mới lạ và ý định du lịch (Horng và cộng sự, 2012; Zhang và cộng sự, 2021). Mối quan hệ điều tiết của tìm kiếm sự mới lạ (novelty seeking) đối với tác động của tài sản thương hiệu lên ý định quay trở lại chưa được kiểm tra một cách có hệ thống và kết quả thực nghiệm trước đây còn thiếu nhất quán (Assaker và cộng sự, 2011; Albaity và Melhem, 2017).

Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu

Mục tiêu tổng quát của luận án là tìm hiểu sự ảnh hưởng của các yếu tố tài sản thương hiệu điểm đến lên ý định quay trở lại Việt Nam của khách du lịch quốc tế và mức độ điều tiết của tìm kiếm sự mới lạ điểm đến lên các mối quan hệ này.

Bốn nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể gồm:

  • Nhiệm vụ 1: Xem xét mối quan hệ qua lại giữa các yếu tố của tài sản thương hiệu điểm đến (nhận thức thương hiệu, hình ảnh thương hiệu, chất lượng cảm nhận và trung thành thương hiệu điểm đến).
  • Nhiệm vụ 2: Xác định sự ảnh hưởng của các yếu tố của tài sản thương hiệu điểm đến tới ý định quay trở lại Việt Nam của khách du lịch quốc tế.
  • Nhiệm vụ 3: Khám phá mức độ điều tiết của tìm kiếm sự mới lạ điểm đến lên các mối quan hệ giữa các yếu tố của tài sản thương hiệu điểm đến và ý định quay trở lại Việt Nam của khách du lịch quốc tế.
  • Nhiệm vụ 4: Đưa ra hàm ý quản trị đến các nhà tiếp thị điểm đến giúp gia tăng giá trị tài sản thương hiệu điểm đến và thu hút khách du lịch quốc tế đến thăm và quay trở lại Việt Nam du lịch.

Luận án giải quyết bốn câu hỏi nghiên cứu:

  • Câu hỏi nghiên cứu 1: Những yếu tố cấu thành tài sản thương hiệu điểm đến ở Việt Nam có mối quan hệ tác động qua lại như thế nào?
  • Câu hỏi nghiên cứu 2: Các yếu tố của tài sản thương hiệu điểm đến ảnh hưởng như thế nào đến ý định quay trở lại Việt Nam của khách du lịch quốc tế?
  • Câu hỏi nghiên cứu 3: Mức độ điều tiết của tìm kiếm sự mới lạ điểm đến lên các mối quan hệ giữa các yếu tố của tài sản thương hiệu điểm đến và ý định quay trở lại Việt Nam của khách du lịch quốc tế như thế nào?
  • Câu hỏi nghiên cứu 4: Những hàm ý quản trị nào được đề xuất cho các nhà tiếp thị du lịch gia tăng giá trị tài sản thương hiệu điểm đến và thu hút khách du lịch quốc tế đến thăm và quay trở lại Việt Nam du lịch?

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

  • Đối tượng nghiên cứu: Mối quan hệ giữa các yếu tố tài sản thương hiệu điểm đến và ý định quay trở lại Việt Nam của khách du lịch quốc tế.
  • Khách thể nghiên cứu: Khách du lịch quốc tế đã từng đến du lịch ở Việt Nam.
  • Phạm vi thời gian: Luận án được thực hiện từ năm 2020 đến 2023. Dữ liệu thứ cấp được chọn lọc chủ yếu trong giai đoạn 2007 - 2021; dữ liệu sơ cấp được thu thập từ năm 2022 đến 2023 (thời gian điều tra khảo sát chính thức từ tháng 10/2022 đến tháng 2/2023).
  • Phạm vi không gian: Giới hạn ở quy mô điểm đến quốc gia: Việt Nam được tiếp cận từ góc độ như một điểm đến du lịch thống nhất.
  • Phạm vi nội dung: Đo lường tài sản thương hiệu điểm đến từ góc nhìn khách hàng thông qua bốn thành phần: Nhận biết thương hiệu điểm đến (DBA), Hình ảnh thương hiệu điểm đến (DBI), Chất lượng cảm nhận điểm đến (DPQ), Trung thành thương hiệu điểm đến (DBL); phân tích tác động tới Ý định quay trở lại (RVI); kiểm định vai trò điều tiết của Tìm kiếm sự mới lạ điểm đến (N) và kiểm soát bởi các yếu tố nhân khẩu học gồm Tuổi (AGE), Thu nhập (INC) và Thời gian chuyến đi (LOS).

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Các hướng nghiên cứu trước trong tài liệu

Luận án tiến hành tổng quan tài liệu có hệ thống từ 62 công trình nghiên cứu giai đoạn 2007 - 2021 và phân loại các hướng tiếp cận tài sản thương hiệu điểm đến thành năm nhóm mô hình chính:

  1. Mô hình đo lường tài sản thương hiệu điểm đến: Tập trung kiểm chứng các thành tố đo lường tài sản thương hiệu tại một hoặc nhiều điểm đến dựa trên các thị trường du khách khác nhau (Konecnik và Gartner, 2007; Boo và cộng sự, 2009; Chen và Myagmarsuren, 2010; Yuwo và cộng sự, 2013; Konecnik Ruzzier và cộng sự, 2014; Yousaf và Amin, 2017; Shahabi và cộng sự, 2018).
  2. Mô hình đo lường tài sản thương hiệu điểm đến tổng thể (Overall Brand Equity - OBE): Xem xét OBE như một cấu trúc trừu tượng bậc cao phản ánh sức mạnh thương hiệu, chịu tác động trực tiếp hoặc gián tiếp từ các thành phần đơn lẻ (Yoo và cộng sự, 2000; Im và cộng sự, 2012; Kashif và cộng sự, 2015; Kim và cộng sự, 2016, 2017; Frías-Jamilena và cộng sự, 2017; Brochado và Oliveira, 2018; Tran và cộng sự, 2019; Kusumaningrum, 2021).
  3. Mô hình xem trung thành thương hiệu là kết quả của tài sản thương hiệu điểm đến: Đặt lòng trung thành ở vị trí biến kết quả cuối cùng chịu sự chi phối của nhận thức, hình ảnh, chất lượng cảm nhận và giá trị thương hiệu (Boo và cộng sự, 2009; Bianchi và Pike, 2011; Buil và cộng sự, 2013; Abbasi và cộng sự, 2014; Kladou và Kehagias, 2014a,b; Liu và cộng sự, 2015; Kotsi và cộng sự, 2018; Kaushal và cộng sự, 2019).
  4. Mô hình xem các yếu tố của tài sản thương hiệu điểm đến là biến tiền đề: Khảo sát tác động của các khía cạnh tài sản thương hiệu lên các biến số hành vi tương lai.
  5. Mô hình xem các yếu tố tài sản thương hiệu là biến trung gian: Đặt các thành phần CBBE làm cầu nối giữa các hoạt động tiếp thị hoặc kích thích môi trường với phản ứng của khách du lịch.
Yếu tố đo lường tài sản thương hiệu điểm đến Ký hiệu Số công trình sử dụng (trên 62 bài) Một số tác giả tiêu biểu
Nhận biết / Nhận thức thương hiệu BA / DBA 52 Konecnik và Gartner (2007), Yousaf và Amin (2017), Tran và cộng sự (2019)
Hình ảnh thương hiệu BI / DBI 51 Boo và cộng sự (2009), Kim và cộng sự (2015), Huerta-Alvarez và cộng sự (2020)
Chất lượng cảm nhận BQ / DPQ 52 Chen và Myagmarsuren (2010), Pike và Bianchi (2016), Kusumaningrum (2021)
Trung thành thương hiệu BL / DBL 60 Bianchi và Pike (2011), Dedeoglu và cộng sự (2019), Tran và cộng sự (2020)
Giá trị thương hiệu BV 18 Boo và cộng sự (2009), Liu và cộng sự (2015), Frías-Jamilena và cộng sự (2017)
Liên tưởng thương hiệu BAS 9 Im và cộng sự (2012), Kashif và cộng sự (2015), Brochado và Oliveira (2018)
Nổi bật thương hiệu BS 5 Pike và cộng sự (2010), Bianchi và Pike (2011), Al-Azzam (2013)
Tài sản thương hiệu tổng thể BE / OBE 4 Im và cộng sự (2012), Salehzadeh và cộng sự (2016), Zarei và Mahmoodi Pachal (2019)
Trải nghiệm thương hiệu BEx 3 Boo và cộng sự (2009), Ferns và Walls (2012), Xu và cộng sự (2021)
Niềm tin thương hiệu BT 2 Kim và cộng sự (2018), Dedeoglu và cộng sự (2019)
Sự phù hợp với thương hiệu BSC 2 Cano Guervos và cộng sự (2020), Frias và cộng sự (2020)

Khoảng trống luận án lựa chọn giải quyết

Luận án kế thừa cấu trúc bốn thành phần phổ biến nhất từ lý thuyết của Aaker (1991) gồm: Nhận biết thương hiệu (DBA), Hình ảnh thương hiệu (DBI), Chất lượng cảm nhận (DPQ) và Trung thành thương hiệu (DBL). Điểm khác biệt và vị trí học thuật của luận án thể hiện ở việc:

  • Sử dụng phân tích tổng hợp (meta-analysis) trên 35 nghiên cứu nhằm kiểm định khái quát hóa các mối quan hệ qua lại giữa bốn thành phần tài sản thương hiệu điểm đến và tác động của chúng tới ý định quay trở lại trước khi tiến hành điều tra thực nghiệm.
  • Kiểm định mô hình cấu trúc tích hợp giữa tài sản thương hiệu và ý định quay trở lại điểm đến cấp quốc gia (Việt Nam) đối với du khách quốc tế trong bối cảnh phục hồi sau Covid-19.
  • Đưa biến số Tìm kiếm sự mới lạ điểm đến (Novelty Seeking) vào kiểm định vai trò điều tiết đối với các mối quan hệ giữa các thành phần tài sản thương hiệu và ý định quay trở lại, giải quyết sự thiếu nhất quán trong các nghiên cứu hành vi du lịch trước đây.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Lý thuyết, khái niệm và khung phân tích

Luận án tích hợp ba nền tảng lý thuyết chính:

  1. Lý thuyết tài sản thương hiệu dựa trên khách hàng (Customer-Based Brand Equity - CBBE): Dựa trên nghiên cứu nền tảng của Aaker (1991, 1996) và Keller (1993, 2003), được Konecnik và Gartner (2007) điều chỉnh vào bối cảnh điểm đến. Tài sản thương hiệu điểm đến là tập hợp nhận thức, thái độ và hành vi của du khách giúp điểm đến gia tăng giá trị tiện ích và năng lực cạnh tranh. Bốn khía cạnh cấu thành gồm:
    • Nhận thức thương hiệu điểm đến (DBA): Sức mạnh và khả năng nhận diện điểm đến trong tâm trí khách du lịch.
    • Hình ảnh thương hiệu điểm đến (DBI): Tập hợp các nhận thức hợp lý hoặc cảm tính gắn liền với điểm đến thông qua các liên tưởng trong ký ức.
    • Chất lượng cảm nhận điểm đến (DPQ): Đánh giá tổng thể của du khách về chất lượng các dịch vụ và trải nghiệm tại điểm đến.
    • Trung thành thương hiệu điểm đến (DBL): Mức độ cam kết gắn bó, sự ưu tiên lựa chọn và xu hướng truyền miệng tích cực của du khách.
  2. Lý thuyết hành vi có kế hoạch (Theory of Planned Behaviour - TPB): Khởi xướng bởi Ajzen (1991), giải thích mối quan hệ chuyển tiếp từ nhận thức, thái độ đến ý định hành vi và hành vi thực tế trong tương lai (ý định quay trở lại điểm đến - RVI).
  3. Lý thuyết tìm kiếm sự mới lạ (Novelty Seeking): Xuất phát từ Bello và Etzel (1985), Lee và Crompton (1992), Mitas và Bastiaansen (2018), phản ánh xu hướng tìm kiếm trải nghiệm mới mẻ, khác biệt so với thói quen sinh hoạt hàng ngày, đóng vai trò điều tiết quá trình chuyển hóa từ tài sản thương hiệu sang ý định hành vi.

Quy trình và phương pháp nghiên cứu

Luận án áp dụng phương pháp nghiên cứu hỗn hợp kết hợp tuần tự:

Tổng quan tài liệu có hệ thống (62 bài) 
  --> Phân tích tổng hợp Meta-analysis (35 bài) 
  --> Phỏng vấn sâu chuyên gia (Hiệu chỉnh thang đo) 
  --> Nghiên cứu thử nghiệm Pretest (Cronbach's alpha, EFA sơ bộ) 
  --> Nghiên cứu thực nghiệm chính thức (Khảo sát du khách quốc tế) 
  --> Phân tích PLS-SEM (Đo lường, Bootstrap kiểm định giả thuyết)
  1. Nghiên cứu khám phá và tổng hợp tài liệu:
    • Phương pháp tổng quan tài liệu có hệ thống (Systematic Reviews): Sàng lọc 62 bài nghiên cứu học thuật giai đoạn 2007 - 2021 về tài sản thương hiệu điểm đến.
    • Phương pháp phân tích tổng hợp (Meta-analysis): Chọn lọc 35 bài báo thỏa mãn các tiêu chuẩn thống kê để mã hóa dữ liệu, tổng hợp quy mô mẫu và kiểm định độ vững của các mối quan hệ qua lại giữa các biến tiềm ẩn.
    • Phỏng vấn chuyên gia: Thực hiện phỏng vấn sâu với các chuyên gia trong lĩnh vực du lịch nhằm điều chỉnh nội dung các biến quan sát cho phù hợp với bối cảnh du lịch Việt Nam.
  2. Nghiên cứu thử nghiệm (Pretest):
    • Đánh giá sơ bộ độ tin cậy thang đo thông qua hệ số Cronbach's alpha và phân tích nhân tố khám phá (EFA) để sàng lọc các câu hỏi trước khi triển khai chính thức.
  3. Nghiên cứu định lượng chính thức:
    • Mẫu khảo sát: Khách du lịch quốc tế đã từng đến Việt Nam, khảo sát bằng bảng hỏi thiết kế chuẩn hóa.
    • Kỹ thuật phân tích: Sử dụng phương pháp mô hình phương trình cấu trúc bình phương tối thiểu bán phần (PLS-SEM).
    • Các bước kiểm định dữ liệu: Đánh giá mô hình đo lường thông qua hệ số tải ngoài (outer loading), độ tin cậy nhất quán nội tại (Cronbach's alpha, độ tin cậy tổng hợp CR), giá trị hội tụ (AVE), giá trị phân biệt qua tỷ số Heterotrait-Monotrait Ratio (HTMT); kiểm tra đa cộng tuyến qua hệ số phóng đại phương sai (VIF); kiểm định mô hình cấu trúc qua kỹ thuật Bootstrapping để đánh giá hệ số tác động đường dẫn ($\beta$), hệ số xác định $R^2$ hiệu chỉnh, hệ số mức độ tác động $f^2$, và khả năng dự báo của mô hình $Q^2$.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Tổng quan nghiên cứu

Chương 1 hệ thống hóa toàn diện các dòng nghiên cứu về tài sản thương hiệu và ý định quay trở lại điểm đến du lịch:

  • Phân tích các hướng tiếp cận tài sản thương hiệu: tài sản thương hiệu dựa trên người sử dụng lao động (employer-based), dựa trên tài chính (financial-based) và dựa trên khách hàng (customer-based). Luận án khẳng định tiếp cận từ góc độ khách hàng (CBBE) là hướng tiếp cận phù hợp nhất trong quản trị tiếp thị điểm đến du lịch.
  • Tổng kết lịch sử phát triển của các thành phần tài sản thương hiệu điểm đến từ mô hình gốc của Aaker (1991), kim tự tháp Keller (1993, 2001) đến mô hình ứng dụng đầu tiên trong du lịch của Konecnik và Gartner (2007).
  • Phân loại 62 công trình nghiên cứu thành năm nhóm mô hình và làm rõ các tranh luận học thuật về mối quan hệ giữa các thành tố: sự tác động qua lại giữa nhận thức thương hiệu, chất lượng cảm nhận và hình ảnh thương hiệu tới lòng trung thành thương hiệu.
  • Đánh giá các nghiên cứu về ý định quay trở lại điểm đến, chỉ ra giới hạn của việc áp dụng đơn lẻ các biến số hài lòng hoặc mô hình TPB truyền thống.
  • Tổng quan về lý thuyết tìm kiếm sự mới lạ trong du lịch và xác lập các khoảng trống nghiên cứu mà luận án giải quyết.

Chương 2: Cơ sở lý luận

Chương 2 tập trung thao tác hóa các khái niệm, xây dựng khung lý thuyết và phát triển hệ thống giả thuyết nghiên cứu:

  • Phân định các khái niệm: Điểm đến du lịch, thương hiệu điểm đến, thương hiệu quốc gia và tài sản thương hiệu điểm đến dựa trên khách du lịch quốc tế.
  • Trình bày cơ chế liên kết lý thuyết: Kết hợp lý thuyết CBBE (Aaker, 1991, 1996) với lý thuyết hành vi có kế hoạch (Ajzen, 1991) và lý thuyết tìm kiếm sự mới lạ (Bello và Etzel, 1985).
  • Phát triển các giả thuyết về mối quan hệ nội tại giữa các yếu tố tài sản thương hiệu: Mối quan hệ giữa nhận thức thương hiệu (DBA) với hình ảnh thương hiệu (DBI), chất lượng cảm nhận (DPQ) và trung thành thương hiệu (DBL); mối quan hệ giữa chất lượng cảm nhận (DPQ) với hình ảnh (DBI) và trung thành (DBL); mối quan hệ giữa hình ảnh thương hiệu (DBI) với trung thành (DBL).
  • Thiết lập các giả thuyết về tác động trực tiếp và gián tiếp của các thành tố tài sản thương hiệu điểm đến lên ý định quay trở lại Việt Nam (RVI).
  • Xây dựng giả thuyết về vai trò điều tiết của tìm kiếm sự mới lạ điểm đến (N) đối với các mối quan hệ tác động từ DBI và DBL lên RVI. Thiết lập vai trò của các biến kiểm soát nhân khẩu học (Tuổi - AGE, Thu nhập - INC, Thời gian chuyến đi - LOS).

Chương 3: Bối cảnh và phương pháp nghiên cứu

Chương 3 trình bày bức tranh thực tiễn của du lịch Việt Nam và chi tiết hóa phương pháp luận thực hiện:

  • Bối cảnh du lịch: Phân tích thực trạng du lịch Việt Nam trước Covid-19 và giai đoạn phục hồi sau Covid-19 (các năm 2020, 2021, 2022); nhận diện các điểm nghẽn về định vị thương hiệu quốc gia, tỷ lệ khách quay lại thấp và sự chênh lệch phục hồi so với các nước Đông Nam Á.
  • Thiết kế nghiên cứu hỗn hợp gồm hai nhánh:
    1. Nghiên cứu thứ cấp (Meta-analysis): Tiêu chí lựa chọn mẫu bài báo từ các cơ sở dữ liệu học thuật, quy trình sàng lọc hệ thống và phương pháp trích xuất dữ liệu tương quan.
    2. Nghiên cứu định lượng sơ cấp: Quy trình chọn mẫu khảo sát đối với du khách quốc tế; cấu trúc bảng câu hỏi gồm các thang đo chuẩn hóa kế thừa từ tài liệu quốc tế cho DBA, DBI, DPQ, DBL, RVI, N và thông tin nhân khẩu học.
  • Báo cáo kết quả thử nghiệm sơ bộ (Pretest): Kiểm định sơ bộ độ tin cậy Cronbach's alpha và phân tích nhân tố EFA nhằm tinh lọc thang đo.
  • Trình bày chi tiết các tiêu chuẩn kỹ thuật phân tích PLS-SEM cho nghiên cứu chính thức.

Chương 4: Kết quả nghiên cứu

Chương 4 công bố toàn bộ kết quả phân tích thống kê thực nghiệm:

  • Kết quả phân tích tổng hợp (Meta-analysis): Xác nhận khái quát mối quan hệ có ý nghĩa thống kê giữa các thành tố tài sản thương hiệu điểm đến và giữa tài sản thương hiệu với ý định quay trở lại trên tập dữ liệu tổng hợp từ 35 công trình quốc tế.
  • Kết quả khảo sát thực nghiệm du khách quốc tế tại Việt Nam:
    • Thống kê mô tả đặc điểm nhân khẩu học của mẫu nghiên cứu (tuổi, thu nhập, thời lượng lưu trú).
    • Kết quả đánh giá mô hình đo lường: Tất cả các biến quan sát đều đạt hệ số tải ngoài yêu cầu; các thang đo đạt độ tin cậy nhất quán nội tại (Cronbach's alpha, CR) và độ tin cậy hội tụ (AVE > 0,5).
    • Đánh giá giá trị phân biệt: Đạt chuẩn theo tỷ số Heterotrait-Monotrait Ratio (HTMT < 0,90).
    • Kiểm tra đa cộng tuyến: Hệ số phóng đại phương sai (VIF) của các biến nằm trong giới hạn an toàn.
    • Kết quả kiểm định mô hình cấu trúc (kỹ thuật Bootstrapping): Xác định các hệ số đường dẫn tác động trực tiếp giữa các biến tiềm ẩn; kiểm định các giả thuyết nghiên cứu.
    • Kết quả phân tích biến điều tiết: Xác định mức độ điều tiết của tìm kiếm sự mới lạ (N) lên mối quan hệ giữa DBI, DBL và ý định quay trở lại (RVI).
    • Kết quả biến kiểm soát: Đánh giá sự ảnh hưởng của tuổi tác, thu nhập và thời gian chuyến đi lên ý định quay lại.
    • Báo cáo các chỉ số sức mạnh mô hình: Giá trị hệ số xác định $R^2$ hiệu chỉnh, hệ số tác động $f^2$ và chỉ số đánh giá mức độ liên quan dự báo $Q^2$.

Chương 5: Thảo luận, hàm ý và hướng nghiên cứu tương lai

Chương 5 diễn giải ý nghĩa học thuật và thực tiễn từ các kết quả đạt được:

  • Thảo luận, so sánh các mối quan hệ thực nghiệm giữa DBA, DBI, DPQ, DBL với các công trình nghiên cứu đi trước trên thế giới, chỉ rõ những điểm tương đồng và khác biệt trong bối cảnh Việt Nam.
  • Diễn giải tác động điều tiết của đặc điểm tìm kiếm sự mới lạ: Làm rõ cách thức nhu cầu trải nghiệm mới lạ làm thay đổi độ mạnh của mối liên kết giữa hình ảnh, lòng trung thành thương hiệu với ý định quay trở lại.
  • Thảo luận hiệu quả kiểm soát của các đặc điểm nhân khẩu học (AGE, INC, LOS).
  • Đề xuất hệ thống giải pháp và hàm ý quản trị, hàm ý chính sách cho DMO và cơ quan quản lý nhà nước:
    1. Chiến lược nâng cao nhận thức và phân định sắc nét hình ảnh thương hiệu du lịch Việt Nam.
    2. Nâng cao chất lượng dịch vụ và cơ sở hạ tầng du lịch nhằm củng cố chất lượng cảm nhận.
    3. Xây dựng các chương trình nuôi dưỡng sự gắn kết và lòng trung thành thương hiệu của du khách quốc tế.
    4. Đổi mới, phát triển sản phẩm du lịch trải nghiệm mang tính mới lạ, khác biệt nhằm đáp ứng nhu cầu khám phá đặc thù của du khách.
  • Chỉ rõ các hạn chế nghiên cứu và định hướng các nghiên cứu tiếp theo.

Kết quả và những đóng góp mới

Đóng góp về mặt lý luận

  1. Củng cố và hoàn thiện khung lý thuyết tài sản thương hiệu điểm đến: Luận án cung cấp bức tranh tổng quan toàn diện thông qua kết hợp tổng quan tài liệu có hệ thống (62 bài) và phân tích tổng hợp meta-analysis (35 bài), góp phần giảm bớt sự thiếu đồng thuận trong học thuật về số lượng thành phần và mối quan hệ qua lại giữa các thành tố tài sản thương hiệu điểm đến.
  2. Làm rõ cơ chế tác động đa chiều lên ý định hành vi: Bằng việc tích hợp đồng thời Lý thuyết tài sản thương hiệu dựa trên khách hàng (Aaker, 1991, 1996; Keller, 1993) và Lý thuyết hành vi có kế hoạch (Ajzen, 1991), luận án kiểm chứng được lộ trình chuyển tiếp từ nhận thức thương hiệu điểm đến tới ý định quay trở lại của du khách quốc tế trong bối cảnh điểm đến quốc gia.
  3. Bổ sung hướng tiếp cận về vai trò điều tiết của tính mới lạ: Luận án là một trong những công trình tiên phong tích hợp Lý thuyết tìm kiếm sự mới lạ (Bello và Etzel, 1985) vào mô hình tài sản thương hiệu điểm đến, kiểm định thực nghiệm vai trò điều tiết của biến số này đối với mối quan hệ giữa tài sản thương hiệu và ý định quay trở lại, giải thích sâu sắc hơn hành vi của khách du lịch quốc tế.

Đóng góp về mặt thực tiễn

  1. Cung cấp căn cứ khoa học cho tổ chức quản lý điểm đến (DMO): Giúp các cơ quan hoạch định chính sách du lịch Việt Nam và doanh nghiệp lữ hành hiểu rõ mức độ tác động của từng thành phần tài sản thương hiệu trong việc thúc đẩy du khách quốc tế quay trở lại sau thời kỳ dịch bệnh.
  2. Định hướng chiến lược định vị và tiếp thị điểm đến: Làm cơ sở thực tiễn để triển khai hiệu quả Chiến lược Marketing du lịch Việt Nam đến năm 2030 và Đề án Xây dựng thương hiệu quốc gia về du lịch văn hóa, tập trung khắc phục điểm nghẽn về tỷ lệ quay lại thấp của du khách.
  3. Định hướng phát triển sản phẩm du lịch mới: Kết quả về vai trò điều tiết của tìm kiếm sự mới lạ chỉ ra yêu cầu cấp thiết đối với ngành du lịch Việt Nam trong việc liên tục đổi mới trải nghiệm, xây dựng các chuỗi sản phẩm mang tính đặc thù và khác biệt cao mà các điểm đến cạnh tranh trong khu vực không thể sao chép.

Kiến nghị và giải pháp đề xuất

  • Tăng cường xây dựng nhận thức và hình ảnh thương hiệu điểm đến Việt Nam: Đẩy mạnh các chiến dịch truyền thông tiếp thị số, truyền tải thông điệp nhất quán và làm nổi bật các thuộc tính văn hóa, thiên nhiên độc đáo nhằm định vị rõ nét thương hiệu Việt Nam trên bản đồ du lịch khu vực và thế giới.
  • Nâng cao chất lượng dịch vụ tại điểm đến: Hoàn thiện hạ tầng, chuẩn hóa quy trình dịch vụ và quản lý môi trường du lịch nhằm đảm bảo trải nghiệm thực tế tương xứng với kỳ vọng ban đầu của du khách.
  • Cải thiện sức hút và duy trì lòng trung thành thương hiệu điểm đến: Thiết kế các chương trình kích cầu dài hạn, chính sách chăm sóc du khách quay lại và nâng cao sự hài lòng tổng thể.
  • Chú trọng phát triển sản phẩm du lịch trải nghiệm mang tính mới lạ, khác biệt: Đa dạng hóa các loại hình du lịch văn hóa, sinh thái và du lịch mạo hiểm, tạo ra các yếu tố bất ngờ và cơ hội khám phá liên tục để kích thích nhu cầu quay lại của cả những du khách có thiên hướng tìm kiếm sự mới lạ cao.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Dựa trên nội dung luận án công bố, các hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp theo bao gồm:

  • Phạm vi không gian nghiên cứu: Luận án tiếp cận Việt Nam như một điểm đến quốc gia thống nhất, chưa tiến hành phân tích so sánh chi tiết giữa các vùng du lịch hoặc các điểm đến cụ thể trong nước (như các trung tâm Sa Pa, Huế, Hội An, Đà Nẵng). Hướng nghiên cứu tương lai có thể áp dụng mô hình cho từng điểm đến địa phương nhằm kiểm tra tính vững của thang đo.
  • Thời điểm và bối cảnh thu thập dữ liệu: Dữ liệu sơ cấp được thu thập trong giai đoạn phục hồi du lịch sau dịch Covid-19 (tháng 10/2022 - tháng 2/2023), thời điểm tâm lý và hành vi du lịch quốc tế có thể còn chịu tác động nhất định từ các rào cản hậu dịch bệnh. Các nghiên cứu tiếp theo có thể khảo sát lặp lại ở các giai đoạn thị trường ổn định hoàn toàn để so sánh biến động.
  • Các biến số trong mô hình: Nghiên cứu mới tập trung vào ba biến kiểm soát nhân khẩu học (tuổi, thu nhập, thời gian chuyến đi) và một biến điều tiết (tìm kiếm sự mới lạ). Hướng nghiên cứu trong tương lai có thể mở rộng khảo sát thêm các biến tâm lý học, động lực du lịch, cảm xúc thương hiệu hoặc chi phí chuyển đổi của du khách.

Giá trị tham khảo

Luận án là tài liệu tham khảo có giá trị chuyên môn cao cho nhiều nhóm đối tượng:

  • Nghiên cứu sinh, học viên cao học và giảng viên chuyên ngành Du lịch, Quản trị kinh doanh, Marketing: Giá trị tham khảo nổi bật nằm ở Chương 1 và Chương 3, nơi tác giả trình bày phương pháp thực hiện tổng quan tài liệu có hệ thống (62 bài) và quy trình thực hiện phân tích tổng hợp (Meta-analysis với 35 bài). Đây là phương pháp luận mẫu mực giúp các nhà nghiên cứu tiếp cận cách chuẩn hóa dữ liệu thứ cấp và kiểm định lý thuyết quy mô lớn trước khi khảo sát thực địa.
  • Cơ quan quản lý nhà nước về du lịch (Cục Du lịch Quốc gia Việt Nam, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, các DMO địa phương): Cung cấp nguồn cứ liệu thực chứng sâu sắc ở Chương 4 và Chương 5 để xây dựng, điều chỉnh các chính sách định vị thương hiệu quốc gia, khắc phục triệt để điểm nghẽn về tỷ lệ khách quốc tế không quay lại.
  • Các doanh nghiệp lữ hành, khách sạn và đơn vị cung ứng dịch vụ du lịch: Giúp các nhà quản trị doanh nghiệp hiểu rõ mối liên kết giữa chất lượng cảm nhận và tính mới lạ đối với lòng trung thành thương hiệu, từ đó đổi mới thiết kế tour tuyến và sản phẩm trải nghiệm du lịch.

Câu hỏi thường gặp

1. Luận án sử dụng những thành phần nào để đo lường tài sản thương hiệu điểm đến (CBBE)?

Dựa trên mô hình tài sản thương hiệu của Aaker (1991) và nghiên cứu của Konecnik và Gartner (2007), luận án đo lường tài sản thương hiệu điểm đến Việt Nam qua bốn thành phần cốt lõi: Nhận biết thương hiệu điểm đến (Destination Brand Awareness - DBA), Hình ảnh thương hiệu điểm đến (Destination Brand Image - DBI), Chất lượng cảm nhận điểm đến (Destination Perceived Quality - DPQ) và Trung thành thương hiệu điểm đến (Destination Brand Loyalty - DBL).

2. Dữ liệu thực nghiệm của luận án được thu thập từ nguồn nào và vào thời gian nào?

Dữ liệu của luận án gồm hai nguồn: Dữ liệu thứ cấp được tổng quan có hệ thống từ 62 bài báo khoa học giai đoạn 2007 - 2021 (trong đó 35 bài được đưa vào phân tích tổng hợp Meta-analysis); dữ liệu sơ cấp được thu thập thông qua khảo sát thực tế trên đối tượng khách du lịch quốc tế đã từng đến Việt Nam, triển khai từ tháng 10/2022 đến tháng 2/2023.

3. Tỷ lệ khách du lịch quốc tế quay trở lại Việt Nam được luận án dẫn chứng như thế nào?

Luận án dẫn số liệu thống kê của Tổng cục Du lịch Việt Nam cho thấy năm 2013 có 66,1% khách đến lần đầu, 20,1% đến lần hai và 13,8% đến lần ba. Năm 2014, tỷ lệ khách quay lại trong một năm chỉ chiếm 11,2% (lần hai: 6%, lần ba: hơn 3%, lần bốn: 2%). Đến năm 2017, tỷ lệ khách quốc tế không quay lại Việt Nam lên đến 80%, thấp hơn rất nhiều so với tỷ lệ quay lại của Thái Lan (82%) và Singapore (89%).

4. Vai trò của biến "Tìm kiếm sự mới lạ điểm đến" (Novelty Seeking) trong mô hình nghiên cứu là gì?

Tìm kiếm sự mới lạ điểm đến (N) đóng vai trò là biến điều tiết (moderator) trong mô hình cấu trúc. Biến này kiểm tra mức độ can thiệp và thay đổi sức mạnh của các mối quan hệ tác động từ Hình ảnh thương hiệu điểm đến (DBI) và Trung thành thương hiệu điểm đến (DBL) tới Ý định quay trở lại Việt Nam (RVI) của khách du lịch quốc tế.

5. Luận án đã kiểm soát những biến nhân khẩu học nào khi phân tích ý định quay trở lại?

Luận án đưa vào mô hình ba biến kiểm soát nhân khẩu học của du khách quốc tế bao gồm: Tuổi tác (Age - AGE), Thu nhập (Income - INC) và Thời gian chuyến đi (Length of stay - LOS) nhằm giải thích bổ sung cho ý định quay trở lại điểm đến.


Kết luận

Luận án tiến sĩ của tác giả Hoàng Thị Vân là công trình nghiên cứu chuyên sâu về tài sản thương hiệu điểm đến quốc gia và ý định quay trở lại của khách du lịch quốc tế tại Việt Nam. Bằng việc kết hợp chặt chẽ giữa tổng quan tài liệu có hệ thống, phân tích tổng hợp meta-analysis và kiểm định mô hình phương trình cấu trúc PLS-SEM, luận án đã làm sáng tỏ mối quan hệ tác động qua lại giữa các thành tố nhận biết, hình ảnh, chất lượng cảm nhận và trung thành thương hiệu. Đặc biệt, việc tích hợp thành công vai trò điều tiết của đặc tính tìm kiếm sự mới lạ đã mang lại những đóng góp mới có ý nghĩa cho hệ thống lý thuyết quản trị thương hiệu điểm đến, đồng thời cung cấp luận cứ khoa học thực tiễn giúp ngành du lịch Việt Nam xây dựng các giải pháp gia tăng năng lực cạnh tranh và thu hút khách quốc tế quay trở lại.