Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN 1. Các công trình nghiên cứu có liên quan đến đề tài luận án Đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) không chỉ là một nguồn lực có vai trò quan trọng cho phát triển kinh tế mà còn là nhân tố có tác động lan tỏa đến rất nhiều khu vực khác nhau. Vì vậy, ở Việt Nam cũng như trên thế giới, các nghiên cứu liên quan đến FDI về lý thuyết và thực nghiệm có đều số lượng rất lớn và chuyên sâu. Hầu hết các nghiên cứu tập trung đánh giá các vấn đề liên quan thu hút, tác động cũng như hiệu quả sử dụng vốn FDI đối với nhóm quốc gia, từng quốc gia, vùng kinh tế, địa phương hay một ngành kinh tế cụ thể nào đó (nhiều nhất là ngành công nghiệp).
Tuy nhiên, các công trình nghiên cứu về thu hút vốn FDI vào ngành nông nghiệp còn rất ít ở cả trong và ngoài nước. Cụ thể như sau: 1. Những nghiên cứu ngoài nước Các nghiên cứu ngoài nước về vấn đề thu hút FDI vào nông nghiệp, đặc biệt là các nghiên cứu định lượng, còn khá “mỏng” so với các nghiên cứu nói chung về FDI. Thực tiễn này là do nguồn dữ liệu chi tiết và đáng tin cậy về dòng FDI vào nông nghiệp còn thiếu, các quốc gia không theo dõi đầy đủ số liệu qua các năm hoặc có theo dõi nhưng có sự thay đổi qua các năm [102].
Mặt khác, các nghiên cứu về FDI nông nghiệp chủ yếu tập trung vào phân tích, đánh giá tác động của FDI đến khu vực nông nghiệp [83]. Và hầu hết nghiên cứu là các bài báo được đăng trên các tạp chí uy tín, các báo cáo đầu tư hàng năm của UNCTAD hoặc các nghiên cứu khác nhưng số liệu chủ yếu lấy từ nguồn UNCTAD. Chỉ một số các nghiên cứu về thu hút FDI nông nghiệp xem xét về yếu tố ảnh hưởng đến thu hút FDI nông nghiệp, đánh giá kết quả thu hút FDI cũng như xu hướng của dòng vốn FDI nông nghiệp trên thế giới và một số quốc gia, hàm ý chính sách trong thu hút FDI của các quốc gia… Intan Maizura Abdul Rashid, Nor’aznin Abu Bakar, Nor Azam Abdul Razak (2016), Determinants of Foreign Direct Investment (FDI) in Agriculture Sector Based on Selected High – Income Developing Economies in OIC Countries: An Empirical Study on the Provincial Panel Data by Using Stata, 2003-2012”, Procedia Economics and Finance 39(2016), 3rd Global Conference on Business, Economics, Management and Tourism. 10 Nghiên cứu đã sử dụng số liệu thứ cấp thu thập từ tổ chức Lương thực và nông nghiệp Thế giới (FAO) và Ngân hàng Thế giới (WB) để phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến thu hút vốn FDI vào ngành nông nghiệp của một số quốc gia hồi giáo được lựa chọn như Brunei, Oman, Malaysia.
Theo đó, nhóm tác giả lựa chọn biến phụ thuộc là lượng vốn FDI thu hút được vào ngành nông nghiệp và các biến độc lập đó là tỷ giá hối đoái, dung lượng thị trường (được đo lường thông qua GDP), tỷ lệ lạm phát, cơ sở hạ tầng (sử dụng chỉ số cơ sở hạ tầng của WB) và mức độ đói nghèo. Nghiên cứu chỉ ra rằng, dung lượng thị trường và mức độ đói nghèo có mối quan hệ với lượng vốn FDI thu hút được. Tuy nhiên, nghiên cứu vẫn còn hạn chế. Các nhân tố đưa vào mô hình là biến độc lập chưa đánh giá đầy đủ các nhân tố đặc trung có ảnh hưởng lớn đối với ngành nông nghiệp như cơ sở sản hạ tầng sản xuất, máy móc thiết bị, khoa học công nghệ, khí hậu, thời tiết, đất đai…Trong mô hình của tác giả có đánh giá ảnh hưởng của yếu tố cơ sở hạ tầng lấy từ nguồn số liệu của WB nhưng số liệu này chỉ thể hiện được một vài chỉ tiêu như số lượng thuê bao điện thoại, số cảng hàng không, đường thủy.
Vì vậy, số liệu cũng chưa phản ánh được cơ sở hạ tầng trực tiếp ảnh hưởng đến thu hút FDI vào nông nghiệp của các quốc gia này. Saifullah Syed and Masahiro Miyazako (2013), Promoting Investment in Agriculture for Increased Production and Productivity, Prepared under the Japan Trust Fund Project “Support to study on appropriate policy measures to increase investment in agriculture and to stimulate food production”. Nghiên cứu chỉ ra rằng, việc có được cơ sở dữ liệu đầy đủ, toàn diện về FDI vào nông nghiệp là rất khó khăn bởi hầu hết các báo cáo đều không đầy đủ và việc thu thập số liệu còn nhiều hạn chế. Vì vậy, nghiên cứu sử dụng dữ liệu của UNCTAD (the United Nations Conference on Trade and Development) để nghiên cứu.
Thông qua dữ liệu từ UNCTAD nhóm tác giả đã chỉ ra rằng, dòng vốn FDI vào nông nghiệp đều rất nhỏ ở tất cả 67 quốc gia được nghiên cứu (bao gồm quốc gia có mức thu nhập cao đến quốc gia có thu nhập thấp). Đồng thời, nghiên cứu cũng chỉ ra rằng, để phát triển nông nghiệp cần tranh thủ lợi thế của dòng vốn FDI, kết hợp thế mạnh về vốn, công nghệ, kinh nghiệm quản lý của nhà đầu tư với lợi thế của người làm nông nghiệp trong nước như lao động, quyền sử dụng đất nông nghiệp, tập quán sản xuất, hiểu biết về điều kiện địa phương… Nghiên cứu đề xuất “mô hình doanh nghiệp” là con đường có thế giúp nông nghiệp phát triển và thu hút thêm nhiều vốn FDI hơn nữa tại các quốc gia. Tuy 11 nhiên, đây mới chỉ là nhận định của nhóm tác giả dựa trên việc quan sát các số liệu thống kê về FDI vào nông nghiệp của các quốc gia mà chưa có sự kiểm định, đánh giá về kết luận này. Mặt khác, nghiên cứu cũng chưa phân tích sâu nguyên nhân của việc vốn FDI vào nông nghiệp hạn chế như vậy.
Roderick Campbell, Tristan Knowles, Amphaphone Sayasenh (2012), Business Models for Foreign Investment in Agriculture in Laos, The International Institute for Sustainable Development (IISD). Đây là một nghiên cứu khá công phu về FDI vào nông nghiệp của Lào. Trong điều kiện, số liệu về FDI nông nghiệp của các quốc gia chưa được đầy đủ, nghiên cứu vẫn đạt được những thành công có ý nghĩa nhất định không chỉ với Lào mà còn với các quốc gia khác trong đó có Việt Nam. Trong nghiên cứu này, nhóm tác giả đã cung cấp tình hình tổng quan về thu hút FDI vào nông nghiệp của Lào cũng như xu hướng của dòng vốn này.
Nghiên cứu đã phân tích khá toàn diện các chính sách và sự thay đổi các chính sách liên quan trong thu hút vốn FDI vào nông nghiệp của Lào như chính sách ưu đãi dòng vốn FDI trong nông nghiệp. Đồng thời, nghiên cứu cũng chỉ ra hai nhóm nhân tố ảnh hưởng tới FDI vào nông nghiệp gồm các ưu đãi về đất nông nghiệp và hợp đồng nông nghiệp. Nhóm tác giả đã phân tích ảnh hưởng của hai nhân tố này theo cả hai góc độ: tích cực và tiêu cực. Đặc biệt, nhóm tác giả tập trung phân tích mô hình doanh nghiệp trong đầu tư nước ngoài nói chung và nghiên cứu trường hợp của các nhà đầu tư trực tiếp nước ngoài vào nông nghiệp của Lào nói riêng.
Chỉ ra những thách thức và cơ hội trong phát triển theo mô hình doanh nghiệp trong lĩnh vực nông nghiệp. Tuy nhiên, về mặt phương pháp luận, tác giả mới chỉ dừng lại ở việc quan sát các số liệu FDI nông nghiệp Lào và đánh giá ảnh hưởng của 2 nhóm yếu tố mà chưa sử dụng các phương pháp định lượng để tăng tính thuyết phục cho nghiên cứu nhân tố ảnh hưởng. Deepak Adhana (2016), Foreign Direct Investment in India Agricultural Sector: Opportunities and Challenges”, Kaav International Journal of Economics, Commerce & Business Management/APR-JUN16/Vol-3/Iss-2/A4. Bài báo chỉ ra vai trò quan trọng của ngành nông nghiệp trong nền kinh tế Ấn Độ khi hàng năm đóng góp khoảng 14% vào GDP và vai trò của FDI trong phát triển ngành nông nghiệp của quốc gia này.
Theo đó, tác giả tập trung phân tích chính sách, xu hướng dòng vốn FDI “chảy” vào ngành nông nghiệp trong khoảng thời gian từ năm 2000 đến tháng 12/2015, nghiên cứu cơ hội và thách thức với dòng vốn FDI trong khu vực nông 12 nghiệp Ấn Độ. Tác giả đã chỉ ra hai cách mà Ấn Độ tiếp nhận vốn FDI. Đó là: (i) FDI “tự do” di chuyển vào các lĩnh vực trong phạm vi được phép mà không cần phải yêu cầu bất kỳ sự chấp thuận nào trước từ phía Chính phủ hoặc Ngân hàng Dự trữ Ấn Độ; (ii) FDI vào các lĩnh vực nằm ngoài phạm vi được phép thì cần phải có phê duyệt của Chính phủ. Chính phủ khuyến khích FDI vào nông nghiệp nên 100% vốn FDI đầu tư vào các lĩnh vực phát triển và sản xuất hạt giống, giống cây trồng; chăn nuôi, nuôi trồng thủy sản; trồng rau, nấm, trồng nho, hoa và các dịch vụ liên quan tới lực vực nông nghiệp… sẽ được di chuyển theo con đường thứ nhất.
Đây chính là một ưu điểm trong chính sách thu hút vốn FDI vào nông nghiệp được tác giả trình bày và đánh giá cao trong việc mang lại hiệu quả thu hút vốn này. UNCTAD (2009), “The Potential of South – South Investment for Agricultural and Economic Development”, The World Investment Report 2009: Investment, Enterprise and Development Commission Multi-year Expert Meeting on International Cooperation: South-South Cooperation and Regional Intergration, Second Session, Geneva. Báo cáo khẳng định rằng, cuộc khủng hoảng lương thực đã cho thấy nông nghiệp ở các nước đang phát triển cần đầu tư bổ sung đáng kể để thúc đẩy năng suất và hỗ trợ phát triển kinh tế nông thôn. Tổ chức Nông nghiệp và lương thực của Liên hợp quốc đã ước tính số vốn cần khoảng 80 tỷ USD mỗi năm để đầu tư mới giải quyết được các vấn đề về an ninh lương thực và đáp ứng nhu cầu ngày một tăng do gia tăng dân số, nghĩa là tăng 50% so với mức năm 2009.
Báo cáo của UNCTAD cũng chỉ ra mặc dù lượng vốn FDI đầu tư vào nông nghiệp còn nhỏ nhưng đang có xu hướng gia tăng. UNCTAD (2009), “Foreign Participation in Agriculture is on the rise, notably South – South Foreign Direct Investment”, The World Investment Report 2009: Investment, Enterprise and Development Commission Multi-year Expert Meeting on International Cooperation: South-South Cooperation and Regional Intergration, Second Session, Geneva. Báo cáo cho thấy, hàng năm dòng vốn FDI vào nông nghiệp đang có xu hướng gia tăng, mỗi năm tăng đến 3 tỷ USD giữa giai đoạn 1989-1991 và 2005-2007. Tuy nhiên, nhìn chung tỷ trọng FDI nông nghiệp so với tổng FDI vẫn rất hạn chế.
Tỷ trọng FDI nông nghiệp vào năm 2007 chỉ đạt 32 tỷ USD. Nhưng nếu xét riêng ở một số nước đang phát triển như Campuchia, Lào, Malawi, Mozambique, Tanzania, Ecuador, Honduras, Indonesia, Papua New Guinea… thì tỷ trọng FDI trong nông nghiệp so với 13 tổng FDI tương đối cao.