Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ NĂNG LỰC CẠNH TRANH 1. Cơ sở lý luận về cạnh tranh, năng lực cạnh tranh 1. Cơ sở lý luận về cạnh tranh 1. Khái niệm về cạnh tranh Cạnh tranh là một khái niệm được sử dụng trong nhiều lĩnh vực khác nhau như kinh tế, thương mại, luật, chính trị,… với nhiều cách hiểu khác nhau từ nhiều góc độ khác nhau.
- Tiếp cận ở góc độ đơn giản, theo định nghĩa của A. Lobe, cạnh tranh có thể được hiểu là sự cố gắng của hai hay nhiều người thông qua những hành vi và khả năng nhất định để cùng đạt được mục đích. Marx (1978) cho rằng “Cạnh tranh là sự ganh đua, sự đấu tranh gay gắt giữa các nhà tư bản nhằm giành giật những điều kiện thuận lợi trong sản xuất và tiêu thụ hàng hóa để thu lợi nhuận siêu ngạch”. - Theo Từ điển Bách khoa của Việt Nam thì “Cạnh tranh trong kinh doanh là hoạt động tranh đua giữa những người sản xuất hàng hóa, giữa các thương nhân, các nhà kinh doanh trong nền kinh tế thị trường, chi phối quan hệ cung cầu, nhằm dành các điều kiện sản xuất, tiêu thụ thị trường có lợi nhất”.
Có thể còn có nhiều cách diễn đạt khác nhau về cạnh tranh, qua các định nghĩa được đề cập trên đây, cạnh tranh có thể được hiểu là sự ganh đua nhau giữa các nhà doanh nghiệp trong việc giành giật một nhân tố sản xuất hoặc khách hàng nhằm nâng cao vị thế của mình trên thị trường hoặc đạt được một mục tiêu kinh doanh cụ thể như lợi nhuận, doanh số, thị phần. Vai trò của cạnh tranh Cạnh tranh là một trong những đặc trưng cơ bản, xu thế tất yếu khách quan trong nền kinh tế thị trường, đồng thời cũng là động lực phát triển của nền kinh tế thị trường. Cạnh tranh có những vai trò tích cực như sau: 6 - Đối với các chủ thể sản xuất kinh doanh: Khi tham gia vào thị trường, các chủ thể sản xuất kinh doanh bắt buộc phải chấp nhận cạnh tranh nhằm mục đích đạt được lợi nhuận cao nhất. Điều này đòi hỏi họ phải luôn sáng tạo, đổi mới phương pháp sản xuất và cách thức tổ chức quản lý kinh doanh, áp dụng công nghệ mới để phát triển, nâng cao chất lượng sản phẩm, dịch vụ, đáp ứng yêu cầu của khách hàng, thị trường.
- Đối với người tiêu dùng, cạnh tranh sẽ tạo ra một áp lực với giá cả, bắt buộc các doanh nghiệp phải giảm giá thành để đẩy nhanh tốc độ bán sản phẩm, nhờ vậy người tiêu dùng được hưởng lợi từ việc các doanh nghiệp cạnh tranh với nhau trong việc cung cấp sản phẩm, dịch vụ. Thêm vào đó, người tiêu dùng có thể lựa chọn sản phẩm, dịch vụ theo nhu cầu và sở thích của mình bởi cạnh tranh buộc các doanh nghiệp phải mở rộng quy mô sản xuất, đa dạng hóa về chủng loại, mẫu mã sản phẩm, các loại hình dịch vụ. - Đối với nền kinh tế, cạnh tranh thúc đẩy tăng trưởng và tạo ra sức ép buộc các doanh nghiệp phải sử dụng có hiệu quả các nguồn lực, tránh lãng phí các nguồn lực chung của nền kinh tế. Bên cạnh đó, cạnh tranh tạo nên áp lực cho các doanh nghiệp trong việc tăng vòng quay vốn, sử dụng có hiệu quả nguồn lao động, tăng năng suất lao động, đóng góp cho tăng trưởng kinh tế.
- Đối với quan hệ đối ngoại, cạnh tranh thúc đẩy doanh nghiệp mở rộng thị trường ra nước ngoài, tìm kiếm các thị trường mới, liên doanh liên kết với các doanh nghiệp nước ngoài, nhờ đó tăng cường giao lưu vốn, lao động, công nghệ với các nước trong khu vực và trên thế giới. Bên cạnh mặt tích cực, cạnh tranh còn có những mặt tiêu cực như sau: - Một là, cạnh tranh sẽ dẫn đến các doanh nghiệp yếu kém khó tồn tại, bị phá sản gây ra tổn thất chung cho nền kinh tế. Điều này sẽ kéo theo số người bị thất nghiệp tăng lên, gây ra gánh nặng lớn cho xã hội, Nhà nước buộc phải tăng cường hỗ trợ việc làm, trợ cấp thất nghiệp,… - Hai là, cạnh tranh tự do gây ra tình trạng thị trường lộn xộn, rối loạn nền kinh tế - xã hội. Các công cụ cạnh tranh của doanh nghiệp a.
Cạnh tranh về sản phẩm: thường được thể hiện qua cạnh tranh về nhãn mác, uy tín của sản phẩm; cạnh tranh do khai thác hợp lý chu kỳ sống của sản phẩm; cạnh tranh về chất lượng; cạnh tranh về trình độ của sản phẩm. Cạnh tranh về giá: Giá cả là sự biểu hiện bằng tiền của giá trị sản phẩm mà người bán/doanh nghiệp có thể nhận được từ người mua qua việc trao đổi sản phẩm trên thị trường. Để các doanh nghiệp đưa ra một mức giá thấp thì doanh nghiệp cần phải tính đến khả năng giảm giá thành sản phẩm. Khả năng giảm giá phụ thuộc vào một số yếu tố như: chi phí, khả năng bán hàng, khối lượng hàng bán ra với số lượng lớn, khả năng tài chính, loại thị trường, mức độ cạnh tranh trên thị trường.
Cạnh tranh về phân phối và bán hàng: được thể hiện qua một số nội dung chủ yếu: Khả năng đa dạng hóa các kênh và lựa chọn được kênh trọng điểm; có hệ thống bán hàng đa dạng; có nhiều biện pháp để kết nối các kênh lại với nhau; có khả năng hợp tác giữa những người bán trên thị trường, nhất là những thị trường có sức mua lớn; có dịch vụ bán hàng và chăm sóc khách hàng sau bán hàng hợp lý; có sự kết hợp phù hợp giữa phương thức bán và phương thức thanh toán. Cạnh tranh về thời cơ thị trường: thể hiện ở chỗ doanh nghiệp dự báo được những thay đổi của thị trường, đưa ra chính sách tìm kiếm, khai thác thị trường hợp lý và đi trước các doanh nghiệp khác. Tuy vậy, nếu doanh nghiệp tìm ra những những ưu thế trong kinh doanh sớm thì sản phẩm của họ sẽ bị lạc hậu trước. Vì vậy các doanh nghiệp cần phải thích ứng kịp thời, nhanh chóng với những thay đổi.
Cơ sở lý luận về nâng cao năng lực cạnh tranh 1. Khái niệm năng lực cạnh tranh Để hiểu một cách toàn diện khái niệm năng lực cạnh tranh thì phải tiếp cận ở cấp độ vĩ mô và cấp độ vi mô. Ở cấp độ vĩ mô có năng lực cạnh tranh quốc gia. Ở cấp độ vi mô có năng lực cạnh tranh của ngành, của doanh nghiệp và của sản phẩm, dịch vụ.
8 Năng lực cạnh tranh quốc gia là việc xây dựng một môi trường kinh tế chung, đảm bảo phân bố hiệu quả các nguồn lực, đạt được mức tăng trưởng cao và ổn định hay chính là nâng cao mức sống một cách nhanh chóng và bền vững, được đo lường bằng chỉ tiêu mức thay đổi thu nhập bình quân đầu người hàng năm. Theo đó, trình độ và chất lượng hoạt động của các doanh nghiệp là một yếu tố quan trọng quyết định năng lực cạnh tranh quốc gia. Năng lực cạnh tranh ngành là cuộc cạnh tranh giữa các doanh nghiệp trong các ngành sản xuất khác nhau nhằm mục đích đầu tư có lợi hơn. Kết quả của cuộc cạnh tranh này là hình thành nên tỷ suất lợi nhuận bình quân và giá trị hàng hóa thành giá trị sản xuất.
Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp là tất cả những gì mà doanh nghiệp có thể sử dụng để có được lợi thế cạnh tranh so với các doanh nghiệp đối thủ cạnh tranh để duy trì vị trí của doanh nghiệp đó một cách lâu dài trên thị trường cạnh tranh, thực hiện mục tiêu đáp ứng nhu cầu thị trường và mục tiêu của doanh nghiệp.Năng lực của doanh nghiệp bao gồm những yếu tố hữu hình mà khách hàng có thể nhìn thấy được như công nghệ sử dụng trong cung cấp dịch vụ, dây chuyền sản xuất, đội ngũ cán bộ nhân viên,… và những yếu tố vô hình như dịch vụ khách hàng, thái độ của đội ngũ nhân viên bán hàng, cảm nhận của khách hàng sau mỗi lần thực hiện giao dịch. Năng lực cạnh tranh của hàng hoá hay dịch vụ nào đó trên thị trường trong nước và quốc tế là sự thể hiện tính ưu việt và tính khác biệt hơn hẳn của nó so với các hàng hoá dịch vụ khác về một số yếu tố như: chất lượng hàng hoá dịch vụ, mẫu mã hàng hoá, môi trường thương mại, mức độ giao dịch và uy tín của hàng hoá dịch vụ trên thị trường, sự ổn định về môi trường kinh tế vĩ mô cũng như các chính sách thương mại và chỉ tiêu về giá thành, giá cả sản xuất. Năng lực cạnh tranh của hàng hoá và dịch vụ trao đổi trên thị trường rất quan trọng vì nó đảm bảo cho hàng hoá dịch vụ có thể chiếm lĩnh khách hàng của các hàng hoá và dịch vụ hiện có trên thị trường. Nếu giá cả, chất lượng và chủng loại hàng hoá dịch vụ của doanh nghiệp chiếm ưu thế hơn thì thị trường 9 sẽ có nhu cầu về hàng hoá dịch vụ của doanh nghiệp đó và tốc độ tiêu thụ tốt hơn so với hàng hoá dịch vụ của các doanh nghiệp khác.
Vai trò của việc nâng cao năng lực cạnh tranh đối với doanh nghiệp viễn thông - Nâng cao năng lực cạnh tranh tạo ra áp lực buộc các doanh nghiệp viễn thông phải luôn học hỏi sáng tạo, thay đổi phương thức sản xuất và tổ chức quản lý cung cấp sản phẩm/dịch vụ, đổi mới công nghệ, ứng dụng những tiến bộ của khoa học kỹ thuật trong việc phát triển sản phẩm/dịch vụ mới, nâng cao năng suất lao động, giảm giá thành sản phẩm/dịch vụ. - Đối với người tiêu dùng, việc nâng cao năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp viễn thông dẫn đến áp lực liên tục về giá cả, buộc các doanh nghiệp phải hạ giá để bán sản phẩm/dịch vụ một cách nhanh chóng nhất. Bên cạnh đó người tiêu dùng sẽ được trải nghiệm nhiều sản phẩm/ dịch vụ tốt hơn do các công ty nghiên cứu, phát triển để cạnh tranh với các doanh nghiệp cùng ngành khác trên thị trường. - Đối với nền kinh tế, việc nâng cao năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp viễn thông kích thích sự phát triển công nghệ, sự đổi mới và sáng tạo.
Những điều này kích thích tăng trưởng kinh tế và tạo nên áp lực cho các doanh nghiệp trong việc sử dụng các nguồn lực hiệu quả, nhờ đó góp phần tiết kiệm các nguồn lực chung của nền kinh tế. - Đối với quan hệ đối ngoại, nâng cao năng lực cạnh tranh thúc đẩy các doanh nghiệp viễn thông mở rộng thị trường ra các nước trong khu vực và trên thế giới.