CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CHIẾN LƯỢC KINH DOANH XUẤT KHẨU 1. Cơ sở lý luận chung về chiến lược kinh doanh 1. Khái niệm chiến lược kinh doanh Chiến lược kinh doanh là bộ phận quan trọng nhất trong toàn bộ chiến lược của doanh nghiệp. Các bộ phận khác của chiến lược chung phải căn cứ, tham chiếu chiến lược kinh doanh để xây dựng và điều chỉnh cho phù hợp.
Nếu chiến lược kinh doanh được xây dựng tốt, sẽ giúp cho doanh nghiệp thu được nhiều lợi nhuận, có chỗ đứng vững chắc an toàn trong kinh doanh, chủ động thích ứng với môi trường kinh doanh. Do đó, các doanh nghiệp trong mỗi thời kỳ, với mỗi mục tiêu nhất định mà cần phải xây dựng cho mình một chiến lược kinh doanh phù hợp với từng điều kiện và hoàn cảnh cụ thể. Đây là yêu cầu tiên quyết đối với bất cứ một doanh nghiệp nào để tạo ra lợi thế cạnh tranh trong quá trình sản xuất kinh doanh, từ đó thành công và phát triển. Có nhiều cách hiểu về chiến lược kinh doanh, tuy nhiên có thể hiểu chung rằng: Chiến lược kinh doanh là công việc xây dựng ra các mục tiêu trong một thời gian nhất định, từ đó đưa ra kế hoạch hành động nhằm mục đích phối hợp một cách tối ưu các nguồn lực, đồng thời định hướng doanh nghiệp phát triển kinh doanh thích ứng với sự biến động của môi trường, nhằm tạo lợi thế cạnh tranh để đạt được các mục tiêu đã đặt ra.
Vai trò của chiến lược kinh doanh trong hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp Trong thị trường cạnh tranh hiện nay, các doanh nghiệp đang ngày càng nhận thức được vai trò quan trọng của việc hoạch định chiến lược trong hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp. Điều này được kiểm chứng không chỉ dựa trên lý luận mà còn dựa trên thực tế của các doanh nghiệp hàng đầu trên thế giới. Sau khi nghiên cứu bản chất của hoạch định chiến lược kinh doanh và dựa trên các công trình của các document 20 of 109. Tai lieu, luan van21 of 109.
6 nhà nghiên cứu, ta có thể tổng kết vai trò quan trọng của việc hoạch định chiến lược kinh doanh như sau: - Xác định mục tiêu, phương hướng hoạt động của doanh nghiệp, từ đó giúp doanh nghiệp tối ưu có hiệu quả khả năng lao động, vốn, kỹ thuật, từ đó mang lại nhiều lợi nhuận nhất. Nhờ có chiến lược mà doanh nghiệp có thể tăng lợi thế cạnh tranh để đạt được hiệu quả kinh doanh một cách chủ động và thực hiện quản trị một cách hiệu suất hơn. - Chiến lược kinh doanh đồng thời cung cấp thông tin giúp doanh nghiệp phân tích đánh giá được sự biến động của các nhân tố chủ yếu trên thị trường. Chiến lược kinh doanh tận dụng cơ hội phát huy lợi thế cạnh tranh và tạo sự chủ động trong phòng ngừa và đối phó rủi ro.
- Doanh nghiệp cần phân tích môi trường bên ngoài và môi trường bên trong để hoạch định chiến lược. Từ các phân tích về môi trường bên ngoài và bên trong làm tiền đề để làm rõ các yếu tố tác động đến các hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Doanh nghiệp cần xác định các điểm mạnh của doanh nghiệp, các điểm yếu tồn tại, các thời cơ và các thách thức. Trên cơ sở các yếu tố trên, doanh nghiệp sẽ chủ động thích nghi khi có sự biến động trong quá trình phát triển và sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.
- Chiến lược chính là kim chỉ nam cho sự tập hợp và thống nhất tất cả mọi lực lượng và nhân tố khác trong doanh nghiệp. Với việc cụ thể hóa chiến lược bằng những sách lược, biện pháp cho từng bộ phận, nhóm các nhân giúp cho hoạt động của doanh nghiệp không bị chồng chéo, mỗi bộ phận đều có vai trò riêng và có sự tham gia vào quá trình hoạch định và thực hiện chiến lược. - Chiến lược kinh doanh sẽ giúp phát triển niềm tin và ý chí cho các thành viên của doanh nghiệp. - Cải thiện kết quả kinh doanh.
Thực tế đã chứng minh, một công ty khi hoạt động theo chiến lược đã vạch ra sẽ cải thiện lợi nhuận một cách tích cực hơn một doanh nghiệp hoạt động tự do. Hoạch định chiến lược còn là cơ sở để thực hiện xây document 21 of 109. Tai lieu, luan van22 of 109. 7 dựng các kế hoạch, chính sách hành động cụ thể như: doanh thu, tài chính, nhân sự,…(Hoàng Hải 2005, tr.
- Cuối cùng, chiến lược kinh doanh còn bảo đảm sự phát triển liên tục và tuần hoàn. Doanh nghiệp cần nghiên cứu quá khứ, để thực hiện hiện tại, điều chỉnh hiện tại, và hoạch định cho tương lai. Tuy nhiên, để đạt được hiệu quả cao thì công việc hoạch định chiến lược cho doanh nghiệp cần phải được thực hiện một cách nghiêm túc, đồng thời đảm bảo các yếu tố thông tin đầu vào chính xác để việc phân tích và hoạch định được chính xác. Các loại hình chiến lược kinh doanh Có nhiều loại hình chiến lược kinh doanh khác nhau dựa trên các cách tiếp cận khác nhau.
Theo cấp quản trị chiến lược Quản trị chiến lược được tiến hành ở nhiều cấp khác nhau trong một doanh nghiệp. Có thể chia làm ba loại hình gồm chiến lược cấp doanh nghiệp, chiến lược cấp kinh doanh và chiến lược cấp chức năng. - Chiến lược cấp doanh nghiệp (Corporate strategy) xác định các hành động mà công ty thực hiện nhằm giành lợi thế cạnh tranh bằng cách lựa chọn, quản trị một nhóm các hoạt động kinh doanh khác nhau cạnh tranh trong một số ngành và thị trường sản phẩm. Đây chính là các chiến lược tổng quát nhất nhằm thực hiện nhiệm vụ và mục tiêu chiến lược của doanh nghiệp - Chiến lược cấp kinh doanh (Strategic Business Unit – SBU).: xác định những căn cứ để chúng có thể hoàn thành các chức năng và nhiệm vụ của mình, đóng góp cho việc hoàn thành chiến lược chung của doanh nghiệp trong phạm vi mà nó đảm nhiệm (Ngô Kim Thanh, tr.
- Chiến lược cấp chức năng (Functional strategy).: Là chiến lược hỗ trợ cho chiến lược doanh nghiệp và chiến lược cấp kinh doanh để cải thiện hiệu lực của các hoạt động cơ bản trong phạm vi công ty như sản xuất, marketing, quản trị vật liệu, nghiên cứu và phát triển và quản trị nguồn nhân lực. Tai lieu, luan van23 of 109. 8 - Chiến lược toàn cầu (Global strategy): Trong bối cảnh kinh tế toàn cầu hóa, nhiều doanh nghiệp nhanh chóng đưa các hoạt động sản xuất kinh doanh vượt ra khỏi biên giới quốc gia. Theo nội dung cạnh tranh Đây là cách tiếp cận mà đại diện là M.
Porter (1996) gồm có ba loại chiến lược: - Chiến lược dẫn đầu chi phí thấp: Là chiến lược tạo lợi thế cạnh tranh bằng cách phương pháp chi phí thấp hơn đối thủ cạnh tranh để thu hút những khách hàng mục tiêu và chiếm thị phần lớn. Chiến lược dẫn đầu chi phí thấp thích hợp với những đơn vị có quy mô sản xuất kinh doanh lớn có khả năng giảm chi phí trong các quá trình hoạt động. Mục tiêu của chiến lược này là duy trì giá thấp tương đối so với đối thủ cạnh tranh. - Chiến lược khác biệt hoá: Doanh nghiệp sẽ tập trung tạo ra những chủng loại sản phẩm khác biệt so với các đối thủ cạnh tranh và các chương trình bán hàng khác biệt để có thể vươn lên vị trí dẫn đầu ngành.
Doanh nghiệp cần nghiên cứu nhu cầu và mong muốn của khách hàng mục tiêu và nghiên cứu những gì mà khách hàng quan tâm hay những lợi ích khách hàng mong muốn, để thiết kế chương trình Marketing khác biệt so với các đối thủ cạnh tranh. - Chiến lược tập trung: Theo chiến lược này các đơn vị kinh doanh tập trung sự chú ý của mình vào một phân khúc thị trường hẹp trên toàn bộ thị trường. Các phân khúc hẹp này có thể xác định theo: khu vực địa lý, sản phẩm, đối tượng khách hàng… 1. Theo cách tiếp cận thực tiễn Theo F.
David (2006), doanh nghiệp có thể có đến 14 giải pháp chiến lược đặc thù: kết hợp về phía trước, kết hợp về phía sau, kết hợp theo chiều ngang, thâm nhập thị trường, phát triển thị trường, phát triển sản phẩm, đa dạng hóa hoạt động đồng tâm, đa dạng hóa hoạt động kết khối, đa dạng hóa hoạt động theo chiều ngang, liên doanh, thu hẹp hoạt động, cắt bỏ, thanh lý, tổng hợp. Theo phạm vi tác động của chiến lược document 23 of 109. Tai lieu, luan van24 of 109. 9 Có thể phân ra hai loại là chiến lược nội địa và chiến lược quốc tế.
Chiến lược quốc tế là chiến lược trong đó doanh nghiệp bán sản phẩm hay dịch vụ của doanh nghiệp ra bên ngoài thị trường nội địa của mình (S. Việc mở rộng toàn cầu cho phép các doanh nghiệp, dù lớn hay nhỏ, có thể tăng khả năng sinh lợi của nó theo những cách thức mới mà không có ở các công ty thuần túy nội địa. Ngoài các cách tiếp cận trên, còn có nhiều quan điểm khác nữa của nhiều nhà nghiên cứu khác nhau. Tuy nhiên trên thực tế cần lựa chọn một chiến lược chung để theo đuổi.
Các chiến lược bộ phận phải thống nhất với chiến lược chung để hợp nhất thành một thể thống nhất. Mặt khác, chiến lược kinh doanh rất đa dạng, mỗi một doanh nghiệp cần tìm ra chiến lược riêng của mình, trên cơ sở xem xét các căn cứ và mục tiêu của chiến lược. Cơ sở lý luận chung về chiến lược kinh doanh xuất khẩu 1. Định nghĩa chiến lược kinh doanh xuất khẩu Dựa trên định nghĩa về chiến lược kinh doanh và xuất khẩu, có thể hiểu chiến lược kinh doanh xuất khẩu là đưa ra mục tiêu và kế hoạch tổng thể nhằm huy động các nguồn lực của doanh nghiệp để thực hiện hoạt động xuất khẩu, bán và tiêu thụ hàng tại thị trường nước ngoài, từ đó đạt mục tiêu mà doanh nghiệp đã đề ra.
Ý nghĩa của chiến lược kinh doanh xuất khẩu 1. Ý nghĩa của hoạt động xuất khẩu - Xuất khẩu giúp đem lại doanh thu cho doanh nghiệp: Việc xuất khẩu chính là việc bán hàng cho khách hàng nước ngoài, tăng doanh thu, mở rộng thị trường, thị phần kinh doanh của doanh nghiệp. Đây là lợi ích chủ yếu mà các doanh nghiệp kỳ vọng khi tham gia vào thị trường xuất khẩu - Xuất khẩu giúp quảng bá thương hiệu doanh nghiệp, thương hiệu quốc gia trên thị trường quốc tế. Tai lieu, luan van25 of 109.
10 - Hoạt động xuất khẩu sẽ đem lại nguồn ngoại tế cho đất nước, đảm bảo cán cân thanh toán và tăng tích lũy, dự trữ ngoại tệ. Từ đó góp phần cho sự phát triển của nền kinh tế của đất nước.