Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VA CÁC NHÂN TO TÁC ĐỘNG DEN SỰ HÌNH THÀNH CHIEN LƯỢC AN NINH CUA HAN QUOC TRONG BOI CANH CẠNH TRANH CHIEN LƯỢC MỸ - TRUNG (2017 - 2022) 1. Một số khái niệm 1. Khái niệm chiến lược Thuật ngữ “chién lược” (strategy) xuất phát từ hai danh từ “strategia” (tướng quân) và “stratos” (quân đội) trong tiếng Hy Lạp. Vẻ sau, hai nha nghiên cửu Dennis Drew va Donald Snow đã định nghĩa chiến lược là “một kế hoạch hành động mà theo đó, nó tô chức, sắp xếp những no lực để đạt được các mục tiêu”.
Dinh nghĩa này không chỉ được ứng dụng trong lĩnh vực quân sự mà con có thê phục vụ cho việc luận giải các khía cạnh thuộc đa lĩnh vực, trong đó có quan hệ quốc tế. Theo quan điểm truyền thông. thuật ngữ “chién lược” đã từng được Alfred Chandler định nghĩa là “tién trình xác định các mục tiêu cơ ban dài hạn của tổ chức, lựa chọn các cách thức hoặc phương hướng hành động và phân bổ các tài nguyên thiết yeu để thực hiện các mục tiêu dé” (Alfred Chandler, 1962). Về hình thức, chiến lược có thé được định ra như là kế hoạch hoặc sơ đồ tác nghiệp tông quát chi hướng cho tô chức đi đến mục tiêu mong muốn (Viện C hiển lược Ngân hang Việt Nam, 2014).
Một số định nghĩa mới hơn cũng đã được đưa ra nhưng vẫn khá tương đồng với khái niệm chiến lược của Alfred Chandler như định nghĩa của Jame B. Quinn: “C hiển lược là một đạng thức hay một kế hoạch phối hợp các mục tiêu chính, các chính sách và một chuỗi hành động được kết đính với nhau vào thành một tông thé” (Jame B. Theo quan điểm hiện dai, chiến lược được định nghĩa bởi Henry Mintzberg bao gồm 5 yếu tố (SP), đó là: kế hoạch (Plan), mưu lược (Ploy), phương thức hành động (Pattern), định vi (Position) va trién vong (Perspective) (Henry Mintzberg, 1994). Theo đó: Thứ nhất, chiến lược được hiệu la kế hoạch khi nó ding dé chỉ một hướng dẫn hoặc tập hợp các hướng dẫn cho quá trình điển biến các hành động một cách có ý thức, được dự định trước, phù hợp với hoàn cảnh.
19 Thứ hai, chiến lược là mưu lược (hay sách lược). Quan điểm này xuất phát từ nguồn gốc quân sự của khái niệm chiến lược bao gồm những biện pháp hành động dé đối phó với kẻ thù, Cách hiểu chiến lược là kế hoạch thường mang ý nghĩa đài hạn hon, còn cách hiểu chiến lược là mưu lược thường mang ý nghĩa ngắn han hơn, tuy nhiên. vẫn phải đảm báo một mục tiêu đài hạn xuyên suốt. Thứ ba, chiến luge la phương thức.
Mintzberg cho rang chiến lược là sự nhất quan trong hành động dù có dụng ý hay không. Và phương thức hành động này có vai trò giúp quốc gia đạt được mục tiêu chính sách. Ví dụ, Chiến lược An ninh Quốc gia của Hoa Kỳ năm 2010 đã nhân mạnh rằng cách tiếp cận an ninh giai đoạn này sẽ là nhằm đề “xây đựng trong nước và định hình ngoài nước”, và để định hình trật tự ngoài nước, các công cụ quyên lực của Hoa Kỳ sẽ theo đuôi sự tham gia toàn diện và thúc đây một trật tự công bằng, bên vững thông qua việc sử dung và hợp nhất sức mạnh của My (Barack Obama, 2010). Thứ tư, chiến lược là định vị.
Với cách định nghĩa này, chiến lược đóng vai trò như một phương tiện để định vị một tỗ chức trong môi trường của nó, gắn mdi quan hệ giữa tô chức và môi trường, giữa bên trong với bên ngoài. Ví dụ, chiến lược *Vành đai và Con đường” mà chính phủ Tập Cận Bình khởi xướng nhằm định vị quốc gia này không những trong khu vực mà còn trên toàn thế giới với những chính sách đầy tham vọng. Chiến lược này chính là nền tang căn bản nhất dé Trung Quốc vươn ra thé giới, thiết lập và khăng định vai trò toàn cầu của mình (Phạm Sỹ Thành, 2019). Thứ năm, chiến lược là triển vọng.
Cách nhìn này lại được tiễn hành từ bên trong của tô chức. Nội ham của nó bao gom khong chi chon lựa định vj, ma còn là cach thức ăn sâu vào nhận thức, hay nói cách khác, nó xác định mong muôn phát trién từ bên trong tô chức. Khác với Henry Mintzberg xem chiến lược có thẻ được hiéu là kế hoạch (plan), Martin Neill cùng các cộng sy khang định chiến lược không phải là việc lập kế hoạch (planning). Thay vào đó, ông cho răng chiến lược giúp tra lời các câu hỏi về cách đối phó với các tình huéng hoặc các thách thức mang tinh cạnh tranh trong một môi trường không được dự đoán hoặc kiểm soát (Martin Neill et al.
Nói cách khác, chiến lược có thê được điều chỉnh tùy theo tình huống, vì thế nó mang tính linh hoạt. Trong khi đó, hành động lập kế hoạch nhất thiết phải bao gồm việc đưa ra các giả định khác 20 nhau về môi trường và tinh huống tiềm năng, vi the nó mang tính thống nhất và bèn vững. Xuyên suốt những cách hiểu khác nhau về chiến lược có thé thay răng, chiến lược là khái niệm thuộc khoa hoc quan lý, chỉ toàn bộ quá trình hình thành tứ tưởng, quan điểm, định hướng; xây dựng kế hoạch, biện pháp; kết hợp các nguồn lực cần thiết và thực hiện chúng một cách thích hợp, nhất quán trong một thời hạn tương đối dai để thay đổi cục diện công việc hoặc chủ thé từ trạng thái hiện tại đến trạng thái mong muốn (Viện Chiến lược Ngân hàng Việt Nam, 2014). Khi đặt “chiến luge” trong tương quan so sánh với “chính sách", thì thuật ngữ chiến lược mang một ý nghĩa rộng hơn so với khái niệm chính sách, tuy vậy chúng thường bị hiểu sai và thường bị sử dụng thay thế cho nhau.
Nói cách khác, chiến lược bao hàm cả chính sách. Chiến lược là một quá trình hình thành ké hoạch hành động lớn và tối ưu, kế hoạch này được lựa chọn trong nhiêu kế hoạch khác nhằm đạt được mục tiêu cụ thé. Dù chiến lược cung cấp cơ sở can thiết cho quá trình lập kế hoạch, nhưng trong nội hàm của chiến lược, ý nghĩa “quá trình” vượt trội va lan at hơn han so với nghĩa “lap kế hoạch” (Martin Neill et al. Trong khi đó, chính sách là một tập hợp những hướng dẫn và quy tắc trong khuôn khô chiến lược giúp tạo ra nén tảng cho các quyết định và hành động thích hợp trong một tình hudéng cụ thé (Sanjeev Bagal, 2016).
Chính sách và chiến lược có mỗi liên hệ chặt chẽ với nhau, vì các mục tiêu mà chiến lược tìm cách đạt được nhất thiết phải được xác định bằng chính sách. Dé minh họa cho sự liên hệ này, có thé lấy ví dụ về chiến lược châu Á - Thái Bình Dương tự do và rộng mở của Mỹ dưới thời Tổng thống Donald Trump. Mục tiêu cốt lỗi của chiến lược này là nhằm xây dựng một trục liên minh "Bộ tứ" gồm My, Nhật Bản, Úc và Án Độ đề kiểm chế, ngăn chặn sự trỗi đậy của Trung Quốc tại khu vực, giành quyền chủ đạo, kiểm soát toàn bộ khu vực Án Độ Dương - Thái Bình Dương. Từ đó, tiếp tục duy tri lợi ích kinh tế, quyền lực chính trị, sức mạnh quân sự và ngoại giao của Mỹ (Phạm Thị Thanh Bình & Vũ Nhật Quang, 2020).
Đề đạt được các mục tiêu này, Mỹ cần phải thực hiện chính sách phù hợp trên ba lĩnh vực chủ chốt là kinh tế, quản trị và an ninh. Vẻ kinh tế, một trong những điểm chính là Mỹ sẽ tiếp tục tăng cường chính sách bảo hộ thương mại, cạnh tranh ngay cả với các đồng minh truyền thống, thực hiện chính sách loại trừ đối với những đối thủ chiến lược và thé hiện thái độ không chấp nhận bj ràng buộc trước 21 các định chế quốc tế truyền thông và thách thức toàn cầu (Phạm Thị Thanh Bình & Vũ Nhật Quang, 2020). Về quản tri, Mỹ thực hiện chính sách hợp tác với các quốc gia trong khu vực trong việc tạo ra những điều kiện cần thiết nhằm “mé cửa cho nguồn dau tư tư nhân lớn hon”, “chéng tham nhũng va bảo đảm quyên tự quyết của các quốc gia”, “thúc day minh bạch hóa, công khai, bảo vệ quyền con người và các quyền tự do cơ bản”. Vẻ an ninh, Mỹ day mạnh chính sách hợp tác quốc phòng với các nước trong khu vực, bao dam an ninh trên khu vực đại dương trải dài từ biên Nhật Bản tới Án Độ Dương và toàn bộ tuyến đường trên biên tới châu Phi; hỗ trợ đồng minh duy trì sức mạnh vượt trội về quân sự.
chính sách “Nước Mỹ trên hết" của chính quyền Tong thông Donald Trump đã đề xuất ngân sách quốc phòng năm 2019 lên tới 716 tỷ USD, tăng 7% so với dé xuất cho năm 2018 và tăng 13% so với chỉ tiêu quốc phòng năm 2017. Như vậy, khác với chính sách, chiến lược giúp trả lời câu hỏi phải làm gì đối với một vẫn dé nào đó hoặc tại sao phải thực hiện một việc gì đó, đây chính là câu trả lời cho câu hỏi làm thé nào đề trién khai hoặc thực hiện một chính sách. Tóm lại, chiến lược là "cách thức một việc gì đó được thực hién” (Terry L. Khái niệm an ninh Trong khi đó, “an mình ” là một khái niệm tương đối rộng và được liên tục bô sung, phát triển qua thời gian.
Mặc dù đối với mỗi lý thuyết về chính trị quốc tế khác nhau, an ninh lại được định nghĩa một cách riêng biệt, nhưng không có lý thuyết nào tập trung vào khía cạnh an ninh nhiều như chủ nghĩa tân hiện thực (Neorealism)*, theo đó nó xem an ninh là động lực chính của các quốc gia (David A. Baldwin, 1997), An ninh hay sự mat an ninh chủ yếu xuất phát từ hệ quả của cấu trúc trong hệ thông quốc tế. Và cau trúc của tình trạng vô chính phủ được đánh giá là có tính bèn vững, lâu đài (John Baylish, 2008). Trong môi trường vô chính phủ, an ninh là mục tiêu cao nhất.
Chỉ khi sự sông còn được đảm bảo thì các quốc gia mới có thể quay sang tìm kiếm những mục tiêu khác như yên én, loi nhuan va quyén luc (Kenneth Waltz, 1979). Tuy nhiên, dù được tiếp cận bằng lý thuyết nào thi trước khi Chiến tranh Lạnh kết thúc, an ninh vẫn chỉ được hiểu theo cách truyền thong, trong đó chủ thé chính là nhà * Tên gọi khác là chủ nghĩa hiện thực cầu trúc 22 nước, va đôi tượng bị đe dọa là chủ quyền va lãnh thé quốc gia. Quan niệm truyền thống này được gọi là "an ninh cứng” (hard security) hoặc "an ninh quân sự” (military security).