mở đầu một kỷ nguyên cạnh tranh và xung đột mới về địa chính trị âm thầm nhưng quyết liệt. Lúc này, một trong những câu hỏi lớn nhất trong quan hệ quốc tế là: trật tự thế giới mới sẽ được thiết lập như thế nào? Trong bối cảnh đó, các lý thuyết địa chính trị được dịp nở rộ và phát triển. Bên cạnh những cách tiếp cận cũ với một số học giả nổi tiếng như: Zbigniew Brzezinski, Maridon Tuareno…, giai đoạn sau Chiến tranh lạnh ghi nhận sự xuất hiện của nhiều xu hướng địa chính trị mới, như địa chính trị văn hóa, địa chính trị tài nguyên, địa chính trị biển đảo. Tuy cách tiếp cận có khác nhau, nhưng những học giả này đều có điểm chung là cố gắng dùng khoa học địa chính trị để xác định các khu vực trọng điểm của thế 15 giới, từ đó đưa ra những dự báo và khuyến nghị cho các quốc gia trong việc hoạch định chiến lược ngoại giao, điều này đã khiến cho địa chính trị giai đoạn này tiếp tục trở thành một môn khoa học được phổ biến rộng rãi trên toàn thế giới.
Nói tóm lại, có thể thấy rằng từ khi ra đời đến nay, khoa học địa chính trị đã trải qua nhiều giai đoạn thăng trầm. Từ chỗ là một khoa học được các cường quốc trọng dụng, áp dụng vào các chiến lược, chính sách đối ngoại cũng như hoạt động xâm lược (thời kỳ diễn ra hai cuộc Chiến tranh thế giới), sang những năm đầu sau khi cuộc Chiến tranh thế giới thứ hai kết thúc, địa chính trị đã lâm vào giai đoạn thoái trào, rồi lại được quan tâm nghiên cứu từ những năm 80 của thế kỷ XX. Đến nay, khi bước vào những năm đầu của thế kỷ XXI, trước những diễn biến phức tạp của tình hình thế giới, địa chính trị đang dần tìm lại được chỗ đứng trong giới khoa học chính trị thế giới. Hiện nay, các nhà hoạch định chiến lược trên thế giới đã thường xuyên sử dụng các tri thức của khoa học địa chính trị để đưa ra các nhận định, chính sách phát triển quốc gia, khiến địa chính trị tiếp tục trở thành một môn khoa học ngày càng thu hút sự chú ý của đông đảo học giả trên toàn thế giới.
Có thể nói rằng, sự phát triển của địa chính trị hiện nay là một hệ quả tất yếu của quá trình tìm kiếm và cạnh tranh quyền lực của các quốc gia trong bối cảnh một trật tự thế giới mới thời hậu Chiến tranh lạnh vẫn đang trong giai đoạn hình thành. Một số cách tiếp cận về địa chính trị trên thế giới. Khi nghiên cứu về địa chính trị, học giả Peter J. Taylor đã bày tỏ quan điểm: “Trong trường hợp của địa chính trị, người ta luôn dễ dàng nhận ra quốc tịch của tác giả dựa vào các công trình nghiên cứu của anh ta” [13, tr.
Nhận định này, theo đánh giá của người thực hiện Luận văn là hoàn toàn chính xác, bởi vì địa chính trị là một môn khoa học mà trong đó yếu tố địa lý được coi trọng hàng đầu, mà ở mỗi quốc gia khác nhau, có điều kiện địa lý khác nhau tất yếu sẽ chi phối đến cách nhìn nhận, tiếp cận về địa chính trị khác nhau. Xét về yếu tố địa lý, có thể chia các quốc gia trên thế giới thành ba loại: quốc gia nội địa, quốc gia ven biển và quốc gia hải đảo. Sự khác biệt giữa các nhóm quốc gia đó đã tạo ra sự khác biệt lớn đến cách tiếp cận địa chính trị của từng nước. Ví dụ, các quốc gia nội địa như Afghanistan, Mông Cổ…, thì mối đe dọa về hải quân sẽ ít hơn mối đe dọa trên đất liền,và 16 không quân, tất yếu sẽ dẫn đến tư tưởng trọng đất liền, và đề cao việc phát triển quân đội, quốc phòng để bảo vệ biên giới đất.
Ngược lại, những quốc gia hải đảo như Nhật Bản, Anh., sự tồn tại và phát triển của quốc gia liên quan chặt chẽ với đại dương nên họ luôn tập trung phát triển sức mạnh hải quân và không quân, do đó tư tưởng trọng biển tất yếu sẽ chiếm ưu thế. Trong khi đó, những quốc gia ven biển như Hoa Kỳ, Trung Quốc, Nga, Pháp…, vì đặc tính là có cả biên giới đất liền và biển, do đó có tư tưởng địa chính trị của những nước này có xu hướng phát triển mạnh hải quân và không quân để bảo vệ biên giới lãnh thổ. Một vài dẫn chứng trên đã cho thấy sự phong phú trong cách tiếp cận về địa chính trị của các quốc gia trên thế giới. Trong khuôn khổ có hạn, Luận văn xin giới thiệu một số cách tiếp cận mà theo tác giả là tiêu biểu nhất, cụ thể như sau: a.
Cách tiếp cận của học giả phương Tây phi Mác xít về địa chính trị. Với tư cách là một ngành khoa học, địa chính trị đã được đề cập và phát triển mạnh mẽ đầu tiên ở Phương Tây, với các trung tâm lớn là Mĩ, Đức, Anh. Tuy cùng chịu sự chi phối của ý thức hệ TBCN, nhưng do sự khác nhau về điều kiện của từng nước, nên các học giả của những trung nước này cũng có những cách tiếp cận khác nhau về địa chính trị, nổi bật hơn cả vẫn là cách tiếp cận dựa trên tư duy trọng đất liền và trọng biển. Về tư duy trọng đất liền.
Hiểu một cách khái quát, đây là cách tư duy coi đất liền là yếu tố quan trọng nhất của một quốc gia. Với tư duy này, các quốc gia dù lớn dù nhỏ đã không ngừng tìm cách mở rộng lãnh thổ. Nhờ hoạt động bành trướng lãnh thổ, một số quốc gia châu Âu như Bồ Đào Nha, Nhật Bản, Tây Ban Nha, Hà Lan, Anh., đã trở thành những cường quốc thế giới. Đến giữa thế kỷ XVI, các thuộc địa ở châu Mĩ của Tây Ban Nha có tổng diện tích 25 triệu km2, Anh Quốc có các thuộc địa rộng hơn 100 lần chính quốc.
Cũng với tư duy này, nước Mĩ đã bỏ tiền ra mua thêm nhiều vùng đất khác, như mua vùng Louisiana của Pháp và Alaska từ Nga, hoặc tiến hành các hoạt động xâm lược để mở rộng lãnh thổ [173]. Như vậy có thể thấy, ngay từ rất sớm, các quốc gia phương Tây đã nhìn nhận được tầm quan trọng của đất liền, tuy nhiên, phải đến khi khoa học địa chính trị ra đời, tư duy ấy mới được hệ thống hoá và có tầm ảnh hưởng rộng lớn đến cái nhìn của nhiều học giả 17 phương Tây. Đại diện tiêu biểu cho tư duy trọng đất liền dưới góc độ địa chính trị là nhà địa lý học người Anh - Sir Halford Mackinder (1861-1947) với luận điểm tiêu biểu “Vùng đất trung tâm”. Sự ra đời của thuyết “vùng đất trung tâm” đã ảnh hưởng sâu sắc đến xu hướng nghiên cứu, tiếp cận địa chính trị của giới nghiên cứu phương Tây.
Các quốc gia như Đức, Anh, Mĩ …, đều rất coi trọng tư tưởng này trong quá trình hoạch định chiến lược của mình. Sự ảnh hưởng tư tưởng trọng đất liền của Mackinder lớn đến nỗi, trong cuốn “Các lý tưởng dân chủ và hiện thực”, học giả Anthony J. Pierce đã khẳng định: “Từ năm 1942, phần lớn các công trình nghiên cứu chiến lược toàn cầu hoặc địa lý học chính trị ở Mĩ và Anh, tất cả hoặc một phần đều dựa trên học thuyết của Mackinder”[203; tr. Về tư duy trọng “biển”.
Cùng với “đất liền”, yếu tố “biển” cũng nổi lên như một nhân tố chính chi phối đến các công trình nghiên cứu về địa chính trị của giới học giả phương Tây. Nhìn vào lịch sử phát triển của nhiều nước phương Tây, có thể thấy biển đã chiếm một vai trò quan trọng, trở thành một đối tượng tranh chấp trong quan hệ quốc tế. Thậm chí, trong thế kỷ XVIII – XX, quan niệm về mối liên quan giữa đại dương với quyền lực quốc tế đã trở nên rất phổ biến khi chứng kiến sự lớn mạnh của nhiều quốc gia do biết lợi dụng yếu tố biển. Cụ thể, nước Nga dưới thời Pie Đại đế đã trở thành cường quốc châu Âu khi tiến ra được biển Baltic và Hắc Hải; Nước Anh trở thành cường quốc số 1 trong thế kỷ XIX nhờ có hạm đội hùng mạnh và kiểm soát được đại dương.
Từ thực tế đó, nhiều địa chính trị gia phương Tây đã đưa ra các học thuyết với tư tưởng đề cao yếu tố biển trong cạnh tranh quyền lực quốc tế, mà tiêu biểu nhất là thuyết “sức mạnh biển” của Alfred Mahan. Xuất phát từ thực tế nước Anh mạnh lên nhờ hàng hải, Mahan cho rằng quốc gia cần phát triển hàng hải để kiểm soát được đại dương và có được quyền lực quốc tế. Sau khi ra đời, thuyết “Sức mạnh biển” của Mahan đã ảnh hưởng lớn đến giới nghiên cứu địa chính trị, cũng như các nhà hoạch định chính sách ngoại của nhiều nước, trong đó Mĩ là quốc gia đầu tiên áp dụng tư tưởng của nhà hải quân chiến lược này vào mục đích cạnh tranh quyền lực quốc tế. Trong thời gian cầm quyền của Tổng thống Theodore Roosevelt, nước Mĩ đã sử dụng học thuyết của Mahan là căn cứ để xây dựng chính sách ngoại giao.
Từ năm 1890, với việc Quốc hội Mĩ thông qua Luật Hải quân là dấu mốc mở 18 đầu cho động thái chuyển hẳn sang tư duy biển của giới cầm quyền Mĩ. Ngoài việc xây dựng lực lượng hải quân, Mĩ còn cho thành lâp các căn cứ hải quân ở những khu vực quan trọng như vùng biển Caribe, đảo Hawai. Chỉ sau một thời gian ngắn áp dụng tư duy biển, sức mạnh hải quân Mĩ từ thứ 12 đã vươn lên thứ 3 thế giới (cuối thế kỷ XIX), sau Thế chiến I thì mạnh nhất thế giới và sau Thế chiến II thì Mĩ đã hoàn toàn kiểm soát Thái Bình Dương, góp phần quan trọng giúp Mĩ trở thành siêu cường toàn cầu [164]. Sau Mĩ, các cường quốc Đức, Anh cũng thể hiện sự quan tâm đặc biết đến học thuyết địa chính trị của Mahan.
Khi đó, tuy đã là cường quốc biển số 1 thế giới, nhưng các học giả cũng như các nhà hoạch định chính sách Anh cũng rất sùng bái thuyết “Sức mạnh biển” của Mahan, thậm chí Chính phủ Anh đã áp dụng thuyết này khi mở rộng hải quân. Tương tự, ở nước Đức, “biển” cũng trở thành một nhân tố chính trong các thuyết địa chính trị của nước này, và được những người đứng đầu nhà nước Đức hưởng ứng nhiệt tình.