ĐẶT VẤN ĐỀ Theo (WHO) Bệnh quai bị là một bệnh lây nhiễm do virus xảy ra ở người, ảnh hưởng chủ yếu đến các tuyến nước bọt. Bệnh xảy ra chủ yếu ở trẻ em từ 5-9 tuổi, cũng có thể ảnh hưởng đến người lớn và gây nên các biến chứng nguy hiểm. Mặc dù tỷ lệ tử vong do bệnh rất thấp (1,6 đến 3,8 trên 10000 trường hợp nhiễm bệnh) [28] nhưng quai bị có thể dẫn đến những biến chứng nguy hiểm như: viêm não - màng não, viêm tinh hoàn, viêm buồng trứng ở em gái dậy thì, và một số di chứng thần kinh vĩnh viễn [43], [44]. Hiện nay, chưa có một loại thuốc điều trị đặc hiệu cho bệnh quai bị [26], [31] chỉ có thể phòng bệnh bằng vắc xin hoặc phòng bệnh quai bị thụ động với globulin miễn dịch, dùng cho người tiếp xúc với virus quai bị mà chưa được tiêm vắc xin trước đó.
Có thể chuẩn đoán bệnh bằng cách thực hiện một số xét nghiệm như: Phân lập virus từ máu dịch họng, dịch tiết từ ống Stenon, nước tiểu hay dịch não tủy. Các phản ứng huyết thanh học: Test ELISA, miễn dịch huỳnh quang, trung hoà bổ thể. Tuy nhiên, các xét nghiệm này cần thời gian, khó thực hiện. Phát hiện tác nhân gây bệnh virus bằng kỹ thuật Real-time RT-PCR được thực hiện cho ra kết quả nhanh, độ chính xác cao và đã được áp dụng bởi một số tác giả như Kazue Uchida và cộng sự (2005) trong bài báo: “Rapid and sensitive detection of mumps virus RNA directly from clinical samples by real-time PCR” được đăng trên tạp chí Journal of medical virology [22], tác giả Jennifer D.
Boddicker và cộng sự (2007) trong bài báo: “Real- Time Reverse Transcription-PCR Assay for Detection of Mumps Virus RNA in Clinical Specimens” được đăng trên tạp chí Journal of clinical microbiology [2]. Tuy nhiên, tại Việt Nam hiện nay các thông tin nghiên cứu về vấn đề này còn hạn chế. Do đó, để hỗ trợ việc xác định nhanh và chính xác virus mumps gây bệnh quai bị bằng kỹ thuật sinh học phân tử, tôi tiến hành thực hiện chuyên đề khóa luận tốt nghiệp “Chẩn đoán nhanh virus mumps gây bệnh quai bị bằng kỹ thuật Real- time RT-PCR trên vùng gene SH”.1 Sơ lược về bệnh quai bị Theo (WHO) bệnh quai bị là một bệnh lây nhiễm do virus xảy ra ở người, ảnh hưởng chủ yếu đến các tuyến nước bọt. Bệnh xảy ra chủ yếu ở trẻ em từ 5-9 tuổi, virus quai bị cũng có thể ảnh hưởng đến người lớn, trong đó có các biến chứng nguy hiểm như viêm não, viêm màng não, viêm tinh hoàn và một số di chứng thần kinh vĩnh viễn [43], [44].1 Nguyên nhân gây bệnh [44] Quai bị do virus mumps, là virus có vật chất di truyền là RNA thuộc Rubulavirus họ paramyxoviridae gây nên.
Cho đến nay chỉ mới ghi nhận được virus này gây nhiễm trên người, mà con đường lây lan qua tiếp xúc trực tiếp hoặc gián tiếp qua đường hô hấp và có trong không khí do hắt hơi từ đường hô hấp trên của bệnh nhân.2 Dịch tễ học [44] Virus sẽ xuất hiện trong tuyến nước bọt sau 5 ngày tính từ khi bệnh nhân có biểu hiện lâm sàng. Sau một tuần, số lượng virus giảm đáng kể. Trong nước tiểu, virus có thể tồn tại vài tuần. Bệnh quai bị xảy ra quanh năm, nhưng tỷ lệ mắc bệnh cao hơn vào cuối mùa đông và đầu mùa xuân.
Theo thống kê của (WHO) tỷ lệ mắc bệnh quai bị hàng năm ở hầu hết các nơi trên thế giới trong khoảng 100-1000/100000 dân, với những đợt dịch lớn xảy ra mỗi 2-5 năm một lần.3 Tình hình quai bị ở Việt Nam [28] Bệnh quai bị phân bố rộng trên toàn cầu. Tuy nhiên, tỷ lệ mắc cao hơn ở những vùng dân cư đông đúc, đời sống thấp kém, vùng khí hậu ôn đới, tập trung cao hơn ở các tỉnh miền Bắc và Tây Nguyên. Việc tiêm vắc xin dự phòng chưa phổ cập rộng rãi nên tỷ lệ mắc hàng năm gần như không giảm đi trong vòng 10 năm gần đây. Bệnh quai bị lưu hành rộng rãi ở 100% tỉnh thành toàn quốc.
Tỷ lệ mắc bệnh quai bị trung bình trong 5 năm là 28,37/105 dân, có xu hướng tăng dần lên từ 28,98 (năm 2006) tới 39,34 (năm 2010), trong đó khu vực Tây Nguyên có tỷ lệ mắc cao nhất 13 (51,20) và miền Nam thấp nhất (12,39). Tỷ lệ tử vong do quai bị trung bình trong 5 năm là 0,0058. Bệnh quai bị xuất hiện quanh năm, có số mắc cao nhất trong khoảng tháng 4 tới tháng 6. Dựa trên đường phân bố ca mắc trung bình 5 năm, đã xác định đường “ngưỡng dịch” quai bị của 63 tỉnh cả nước với giá trị ngưỡng cao nhất là 301,9/10 5 dân/năm (tỉnh Lào Cai) và thấp nhất là 1,26/105 dân/năm (tỉnh Hậu Giang) [46].4 Triệu chứng của quai bị Người bị quai bị sẽ có thời gian ủ bệnh trong vòng 2 - 3 tuần, thông thường vào khoảng 17 - 18 ngày.
Trong thời gian này, người bệnh không có biểu hiện gì rõ rệt (30 tới 40% trường hợp nhiễm quai bị không có triệu chứng lâm sàng và đó là nguồn lây khó tránh nhất [44]). Sau đó, người bệnh có biểu hiện sốt 38oC, đau cổ họng, người mệt mỏi, chán ăn, có thể đau tuyến nước bọt dưới hàm hoặc dưới lưỡi, đau khi há miệng hoặc khi nuốt, tuyến mang tai sưng to kèm đau nhức ở một bên, lan dần sang tuyến mang tai bên kia và sưng to đến khoảng 1 tuần thì từ từ nhỏ lại [26], [44], [45].5 Biến chứng của quai bị Bệnh quai bị ở người lớn tuy ít gặp, nhưng thường nặng và có nhiều biến chứng hơn ở trẻ em và các trẻ em trong lứa tuổi đang dậy thì. Có thể gặp các biến chứng sau: Viêm tinh hoàn và mào tinh hoàn: Biến chứng này có tỷ lệ 20-35% ở người sau tuổi dậy thì mắc phải, khoảng 50% số trường hợp tinh hoàn teo dần và có thể dẫn đến tình trạng giảm số lượng tinh trùng và vô sinh [26], [29]. Nhồi máu phổi: Là biến chứng có thể xảy ra sau viêm tinh hoàn do quai bị vì hậu quả của khối huyết từ tĩnh mạch tuyến tiền liệt [26].
Viêm buồng trứng: Có tỷ lệ mắc phải là 7% ở nữ, sau tuổi dậy thì, ít khi dẫn đến vô sinh. Viêm tụy: Có tỷ lệ mắc phải là 3% - 7% [26], là một biểu hiện nặng của quai bị. Bệnh nhân bị đau bụng nhiều, buồn nôn, có khi tụt huyết áp. Các tổn thương thần kinh: Viêm não có tỷ lệ mắc phải là 0,5%.
Tổn thương thần kinh sọ não dẫn đến điếc, giảm thị lực, viêm tủy sống cắt ngang, viêm đa rễ thần kinh [26]. 14 Bệnh quai bị ở phụ nữ có thai: Những phụ nữ bị quai bị trong 3 tháng đầu của thai kỳ có thể gây sẩy thai với tỷ lệ 25% hoặc sinh con dị dạng [26]. Trong 3 tháng cuối của thai kỳ có thể sinh non hoặc thai chết lưu. Một số biến chứng khác: Viêm cơ tim, viêm tuyến giáp, viêm tuyến lệ, viêm thần kinh thị giác (gây giảm thị lực tạm thời), viêm thanh khí phế quản, viêm phổi, rối loạn chức năng gan, xuất huyết do giảm tiểu cầu [26].6 Phòng và điều trị Hiện nay, chưa có một loại thuốc điều trị đặc hiệu cho bệnh quai bị [26], [31] chỉ có thể phòng bệnh bằng vắc xin.
Vắc xin phòng bệnh quai bị thường kết hợp với phòng sởi và rubella (Trimovax, MMR) [31]. Vắc xin phòng bệnh quai bị có tác dụng kích thích cho trẻ em sản sinh kháng thể kháng quai bị, kháng thể đạt mức độ cao nhất sau khi tiêm chủng 6 – 7 tuần. Ngoài ra còn phòng bệnh quai bị thụ động với globulin miễn dịch, dùng cho người tiếp xúc với virus quai bị mà chưa được tiêm vắc xin trước đó [44].7 Phát hiện bệnh Hiện nay, các phương pháp chuẩn đoán bệnh quai bị được thực hiện với một số xét nghiệm tiêu biểu như: Test ELISA: Nguyên tắc dựa trên sự kết hợp đặc hiệu giữa kháng nguyên và kháng thể. Dùng kháng nguyên để phát hiện kháng thể quai bị trong máu hoặc dịch não tủy.
Miễn dịch huỳnh quang: Phát hiện nhanh kháng nguyên virus trong tế bào họng - thanh quản. Trung hoà bổ thể: Đáp ứng kháng thể đối với kháng nguyên S, V dùng để chẩn đoán quai bị cấp, mới. Kháng thể đối với kháng nguyên S xuất hiện sớm nhất, cao nhất 1 tuần, biến mất sau 6- 12 tuần [43]. Nuôi cấy virus trực tiếp từ dịch não tủy (CSF): Dịch não tủy lấy ở giai đoạn sớm (0- 7 ngày) hoặc muộn (14 - 21 ngày) để làm xét nghiệm tìm kháng thể IgM hoặc biến động hiệu giá kháng thể IgG)[17].
Tuy nhiên, các phương pháp này tiêu tốn nhiều thời gian, đắt tiền và không thể phát hiện virus ở nồng độ thấp [44]. Vì vậy cùng với sự phát triển của khoa học thì 15 phương pháp phát hiện nhanh là cần thiết để giúp chuẩn đoán sớm tiêu biểu như kỹ thuật Real-time RT-PCR được thực hiện cho ra kết quả nhanh, độ chính xác cao và đã được một số tác giả trên thế giới áp dụng như Kazue Uchida và cộng sự (2005) trong bài báo: “Rapid and sensitive detection of mumps virus RNA directly from clinical samples by Real-time PCR” được đăng trên tạp chí Journal of medical virology [22], tác giả Jennifer D. Boddicker và cộng sự (2007) trong bài báo: “Real- Time Reverse Transcription-PCR Assay for Detection of Mumps Virus RNA in Clinical Specimens” được đăng trên tạp chí Journal of clinical microbiology [2] nên trong bài nghiên cứu này tôi sử dụng phương pháp Real-time RT-PCR để phát hiện nhanh virus mumps gây bệnh quai bị ở Việt Nam.8 Các công trình nghiên cứu trước Phát hiện tác nhân gây bệnh virus bằng kỹ thuật Real-time RT-PCR đã được áp dụng bởi một số tác giả như: Tác giả Kazue Uchida và cộng sự (2005) trong bài báo: “Rapid and sensitive detection of mumps virus RNA directly from clinical samples by Real-time PCR” được đăng trên tạp chí Journal of medical virology [22].Trong bài nghiên cứu này tác giả sử dụng gene F là gene mục tiêu, 73 mẫu lâm sàn bao gồm cả mẫu dịch phết vòm họng và dịch não tủy được thực hiện phản ứng Real-time PCR và đã phát hiện được RNA virus mumps khoảng 70% ở cả hai mẫu dịch phết họng và mẫu dịch não tủy. Boddicker và cộng sự (2007) trong bài báo: “Real-Time Reverse Transcription-PCR Assay for Detection of Mumps Virus RNA in Clinical Specimens” được đăng trên tạp chí Journal of clinical microbiology [2].
Trong bài nghiên cứu này tác giả sử dụng gene SH là gene mục tiêu. Mục tiêu nghiên cứu của bài báo là xác định độ nhạy và độ đặc hiệu của phương pháp Real-time PCR để phát hiện virus mumps.