ĐẶT VẤN ĐỀ Dưa leo, cà chua và khoai tây là ba loại cây nằm trong số những loại cây rau chủ yếu có ảnh hưởng lớn đến sản xuất, chế biến, tiêu thụ, xuất khẩu và thu nhập của ngành trồng rau ở Việt Nam. Diện tích trồng các loại cây này không ngừng gia tăng trong nhiều năm qua nhằm đáp ứng cho nhu cầu tiêu thụ ngày càng tăng của thị trường trong nước cũng như xuất khẩu. Các vùng chuyên canh dưa leo, cà chua và khoai tây đã và đang được phát triển ở Việt Nam. Tuy nhiên, bên cạnh những thuận lợi có được, người trồng rau nói chung hay dưa leo, cà chua và khoai tây nói riêng luôn phải đối mặt với những thiệt hại do các loại sâu bệnh trên rau gây ra.
Trong đó, bệnh do virus gây ra được đánh giá là một trong những loại bệnh gây hại nghiêm trọng. Bệnh virus ảnh hưởng đến khả năng sinh trưởng phát triển cũng như năng suất và chất lượng của các loại cây rau và cho đến nay vẫn chưa có biện pháp điều trị hữu hiệu. Do vậy, việc nghiên cứu các biện pháp kỹ thuật để kiểm soát bệnh virus trên cây rau hiện đang là vấn đề nhận được sự quan tâm rất lớn từ phía các nhà khoa học cũng như nhà quản lý. Một trong những kỹ thuật được sử dụng phổ biến hiện nay được dùng cho việc phát hiện virus là ELISA.
Kỹ thuật này cho kết quả nhanh, lại đơn giản, dễ sử dụng nhưng thường có độ nhạy thấp, không phát hiện được bệnh khi nồng độ virus trong mẫu không cao. Việc phát hiện bệnh nhanh, hiệu quả ngay cả trên các mẫu nhiễm không có biểu hiện triệu chứng rõ ràng, RT-PCR được xem là phương pháp hữu hiệu nhất cho phép phát hiện virus ở giai đoạn sớm với độ nhạy cao. Tại Thành phố Hồ chí Minh, sự quan tâm của lãnh đạo Thành phố về vấn đề này cũng đã được thể hiện rõ trong Quyết định số 46/QĐ-UBND ngày 27 tháng 01 năm 2011 về việc “Phê duyệt Chương trình ứng dụng và phát triển công nghệ sinh học phục vụ nông nghiệp – nông thôn trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh đến năm 2020 và tầm nhìn Trang 12 đến năm 2025”, với mục tiêu cụ thể trong giai đoạn 2011-2015 là “xây dựng quy trình chẩn đoán virus gây bệnh chính trên rau, hoa, cây kiểng và một số cây công nghiệp bằng kỹ thuật sinh học phân tử. Với những lý do nêu trên, đề tài “ Xây dựng quy trình phát hiện Cucumber mosaic virus, Tomato mosaic virus, Potato virus X và Potato virus Y bằng kỹ thuật RT-PCR phục vụ công tác tầm soát bệnh virus trên dưa leo, cà chua và khoai tây” đã được triển khai thực hiện.
Đề tài là tiền đề cho việc phân lập và dòng hóa gen của các virus gây bệnh trên rau tại Việt Nam. Nguồn gen phân lập được sẽ sử dụng làm vật liệu cho việc nghiên cứu thiết kế các vector chuyển gen phục vụ cho mục tiêu tạo ra các giống rau có khả năng kháng virus bằng công nghệ chuyển gen RNAi. TỔNG QUAN TÀI LIỆU III. Cucumber mosaic virus III.
Sơ lược về Cucumber mosaic virus Cucumber mosaic virus (CMV) được mô tả đầu tiên vào năm 1916 trên dưa leo đồng thời bởi Doolittle và Jagger cũng như các cây thuộc họ bầu bí khác. Đến nay, CMV đã được biết đến trên phạm vi toàn thế giới ở cả khu vực ôn đới và nhiệt đới và gây nhiễm trên nhiều loại cây trồng khác nhau (Zitter, 2009). CMV là một loài thuộc giống Cucumovirus, họ Bromoviridae. Cấu trúc bao gồm 3 phần tử, mỗi phần tử có đường kính xấp xỉ 28 nm.
Bộ gen bao gồm 3 phần tử RNA mạch đơn đó là RNA 1 (~3.050 nucleotide) và RNA 3 (~2. Mỗi phân tử RNA được bao bọc trong một vỏ protein thành một phân tử hình cầu riêng biệt. Vì vậy, cấu trúc của một virus CMV trưởng thành bao gồm 3 phân tử hình cầu, một phân tử chứa RNA 1, một phân tử chứa RNA 2 và phần tử còn lại chứa RNA 3. Phần tử RNA 3 có thể chứa một phân tử RNA thứ 4, được xem là RNA 4 (~1.030 nucleotide), RNA này mã hóa cho gen protein vỏ và từ đó protein vỏ của CMV được tạo ra.
Kiểu dịch mã này của CMV, được gọi là RNA dưới bộ gen (subgenomic), sử dụng một mạch RNA tách biệt được tạo ra trong quá trình sao chép. Vì vậy, mặc dù RNA 3 chứa gen protein vỏ nhưng gen này chỉ được dịch mã để tạo ra protein vỏ từ mạch RNA dưới bộ gen của nó (Zitter, 2009). Hình dạng và cấu trúc bộ gen của virus CMV (Zitter, 2009). RNA 1 mã hóa cho protein 1a, cần thiết cho sự sao chép của bộ gen virus.
RNA 2 mã hóa cho 2 protein 2a và 2b. Protein 2a cần cho sự sao chép của virus và chứa các motif đặc trưng của RNA-dependent RNA polymerase trong khi protein 2b chống lại cơ chế im lặng gen sau phiên mã của kí chủ. RNA 3 mã hóa cho 2 protein đó là protein 3a và protein vỏ. Protein 3a (hay còn gọi là protein vận chuyển –MP) giữ vai trò quan trọng trong sự di chuyển của virus.
Protein vỏ được biểu hiện từ một phân tử RNA dưới bộ gen (sgRNA hay RNA 4), có vai trò trong sự lan truyền cũng như trong sự di chuyển của virus (Zitter, 2009). Bên cạnh RNA bộ gen và các loại RNA dưới bộ gen, một số chủng CMV còn hỗ trợ cho một RNA vệ tinh (được gọi là RNA 5 hay satRNA). SatRNA là một phân tử mạch đơn có chiều dài khoảng 332 – 342 nucleotide và phụ thuộc hoàn toàn vào CMV để sao chép. Hơn nữa satRNA cũng được bao bọc trong phân tử CMV, điều này cho phép chúng lan truyền cùng với CMV.
Tuy nhiên, satRNA không cung cấp cho CMV bất kỳ chức năng nào (Zitter, 2009). Triệu chứng của Cucumber mosaic virus CMV gây bệnh trên 1287 trong 518 giống thuộc 100 họ thực vật (Zitikaite, 2011) và có thể gây ra những tổn thất nghiêm trọng về mặt kinh tế với nhiều loại cây rau và hoa kiểng. CMV gây ra sự lây nhiễm hệ thống trong hầu hết các cây kí chủ nhưng có thể vẫn không biểu hiện triệu chứng trong một số cây trồng. Các triệu chứng biểu hiện của CMV có thể khác nhau rất lớn phụ thuộc vào loài và tuổi của cây bị nhiễm (Zitter, 2009).
Triệu chứng phổ biến nhất gây ra bởi CMV là thể khảm và biến dạng lá (hình 2), tuy nhiên tính nghiêm trọng có thể thay đổi từ sự không biểu hiện triệu chứng đến sự chết của kí chủ. Virus cũng gây ra dạng lá dương xỉ (fern leaf), sự còi cọc và biến dạng trái ở một số cây rau (Zitikaite, 2011). Triệu chứng nhiễm CMV trên lá và trái dưa leo (Zitter, 2009). CMV có thể được lan truyền bởi nhiều loài rệp thông qua nhựa cây, hạt và dây tơ hồng (Zitikaite, 2011).
Tomato mosaic virus III. Sơ lược về Tomato mosaic virus ToMV là virus thuộc nhóm Tobamovirus, có phần tử dạng hình que, dài 300 nm, rộng 15 nm (Scholthof, 2000), chứa RNA mạch đơn, sợi dương. Bộ gen mã hóa cho 4 protein đó là là protein 130K, protein 180K, protein 30K và protein vỏ (CP) (hình 3). Hai protein 130K và 180K được dịch mã từ bộ gen, trong khi protein 30K và CP được dịch mã từ các mRNA dưới bộ gen RNA (sgRNA).
Protein 130K, và protein 180K có vai trò trong sự sao chép RNA và được xem như là protein sao chép (Kubota và cs, 2003, Ishibashi, 2012). Protein 30K là một protein đa chức năng có khả năng tương tác với nhiều protein kí chủ cũng như các mạch kép RNA nhỏ để hoạt động như một nhân tố ức chế sự im lặng RNA. Protein 30K cần cho sự di chuyển của virus từ tế bào đến tế bào. CP chỉ là một protein cấu trúc cần thiết cho sự lan truyền của virus (Ishibashi, 2012).
Hình dạng (Scholthof, 2000) và cấu trúc bộ gen (Ishibashi, 2012) của CMV. Trang 15 Phổ ký chủ của virus này rất rộng, gây nhiễm trên nhiều loại cây trồng như cà tím, hồ tiêu, khoai tây, rau bina, cà chua, củ cải, táo, củ cải đường, thuốc lá cùng với nhiều loại cây trồng làm cảnh và cả cỏ dại. Có ít nhất 5 chủng ToMV đã được phát hiện, các chủng này chỉ có sự khác biệt di truyền rất nhỏ. Các chủng ToMV khác nhau có thể gây ra các triệu chứng khác nhau.
Mức độ biểu hiện triệu chứng ToMV phụ thuộc vào tính nhạy cảm của cây, tính độc của chủng virus, giai đoạn phát triển của cây và điều kiện môi trường (FAO, 2000). Triệu chứng của Tomato mosaic virus Các triệu chứng của ToMV đầu tiên xuất hiện khoảng 10 ngày sau khi cây bị nhiễm. Triệu chứng được thể hiện rõ nhất là cây, lá còi cọc, có những vết lốm đốm, biến dạng. Lá có những vùng xanh đậm và nhạt.
Vùng xanh đậm có xu hướng trở nên dày hơn vùng xanh nhạt. Triệu chứng đầu tiên thường xuất hiện ở các lá phía trên rồi lan dần xuống, lá trở nên thô, nhăn và có thể cuộn tròn xuống ở rìa lá (hình 4). Triệu chứng trên trái, thường ít xuất hiện, là những vết đốm màu đồng hoặc màu nâu. Cà chua bị nhiễm bởi những dòng ToMV gây hoại tử hay nhiễm ToMV cùng với những virus khác sẽ xuất hiện những vết hoại tử trên cây và cây chết từng phần.
Việc nhiễm ToMV sẽ làm cây giảm kích thước cũng như số lượng quả trên cây (Sicora, 2011). Triệu chứng nhiễm ToMV trên lá và trái cà chua (Scholthof, 2000). Potato virus X III. Sơ lược về Potato virus X Potato virus X (PVX) là virus phổ biến nhất trong tất cả các virus gây bệnh trên khoai tây.
PVX gây bệnh trên hơn 240 loài thực vật thuộc 16 họ; tuy nhiên phần lớn kí chủ của chúng thuộc họ cà (Solanaceae). Trang 16 Potato virus X (PVX), một thành viên của nhóm Potexvirus, có phần tử virus dạng sợi, dài 550 nm, rộng 11-18 nm (Verchot-Lubicz và cs, 2007), mang bộ gen RNA sợi đơn mạch dương dài 6435 nucleotide, chứa 5 khung đọc mở (ORF 1-5). ORF1 mã hóa cho protein replicase 165 (166) kDa, được dịch mã trực tiếp từ RNA bộ gen. Các khung đọc mở ORF 2, ORF 3 và ORF 4, được gọi là bộ ba gen ức chế (triple gene block-TGB), mã hóa cho 3 protein tương ứng là TGBp1 (25 kDa), TGBp2 (12 kDa) và TGBp3 (8kDa).
ORF5 mã hóa cho protein vỏ (25 kDa) (Huisman và cs, 1998; Atabekov và cs, 2001). Đầu tận cùng 5’ và 3’ của bộ gen virus chứa trình tự không dịch mã có kích thước lần lượt là 84 và 76 nucleotide, có vai trò trong sự điều hòa sao chép và dịch mã của virus (hình 5) (Huisman và cs, 1998). Hình dạng (Abbas, 2013) và cấu trúc bộ gen (Mecuria, 2008) của PVX.