Đặt vấn đề Trong các loại hoa được trồng phổ biến, hoa lan được biết đến như một loài hoa không chỉ ở vẻ đẹp, hương thơm, màu sắc đa dạng mà còn có giá trị kinh tế cao. Đến nay loài người đã biết được trên 750 chi với 35000 loài lan tự nhiên và 75000 giống lan do kết quả chọn lọc và lai tạo. Việt Nam với khoảng 1003 loài phong lan hiện có, đây là nguồn tài nguyên thực vật vô cùng phong phú phục vụ tốt cho công tác chọn tạo các giống hoa lan mới. Tuy nhiên, hầu hết các loài lan này chỉ được khai thác và nuôi trồng trong điều kiện tự nhiên, chưa được áp dụng các biện pháp kỹ thuật nên năng suất, chất lượng hoa không cao, chưa đáp ứng được nhu cầu thị hiếu người tiêu dùng.
Trong khi các giống lan nhập nội lại có các ưu điểm như sinh trưởng, phát triển khỏe, sản lượng hoa cao, chất lượng hoa tốt: hoa to, màu sắc đẹp, đa dạng, độ bền hoa kéo dài và điều khiển ra hoa được vào các dịp lễ Tết, nên đã mang lại hiệu quả cao cho người trồng lan. Cây hoa lan là thực vật thuộc bộ Asparagale, là loài thực vật có hoa, lớp thực vật một lá mầm. Đây là một trong những họ lớn nhất của thực vật, chúng phân bồ khắp nơi trên thế giới. Từ một số loài chính bằng việc lại giống trong tự nhiên và cả nhân tạo đã tạo lên nhiều loại mới, một số loài là đột biến từ các loài hiện tại.
Họ này được chia thành năm phân họ: Orchidoideae, Epidendroideae, Cypripediodeae, Vanilloideae, và Apostasiodeae. Hoa lan được nhiều người ưa chuộng vì vẻ đẹp đặc sắc và các hình thức đa dạng của chúng. Hiện nay, ngành công nghiệp về lan đang có xu hướng phát triển thành một ngành thương mại và phát triển trên toàn thế giới. Lan được nuôi trồng ở nhiều khu vực khác nhau với nhiều quy mô lớn nhỏ khác nhau từ các khu công nghiệp, trang trại đến các nhà lưới, hộ gia đình và áp dụng những phương pháp chăm sóc từ truyền thống đến các phương pháp hiện đại.
Cùng với sự phát triển kinh tế từ cây hoa lan thì các vấn đề bệnh hại và cách kiểm soát các bệnh hại trên cây hoa lan ngày càng được chú trọng. Hiện nay, trên thế giới phát hiện ít nhất 30 loài virus có gây hại cho cây hoa lan đã được ghi nhận, trong đó có đáng chú ý có loại virus đốm vòng OFV (Orchid fleck virus) và CymMV (Cymbidium mosaic virus) được phat hiện nhiều trên hoa lan gây anh hưởng đến chat lượng va giá trị của loài hoa lan. Việt Nam là một đất nước nằm trong vành đai khí hậu nhiệt đới, có khí hậu nhiệt đới ẩm gió mùa là điều kiện thích hợp cho các loại dịch bệnh phát triển. Cùng với đó, lan là loài thực vật có giả hành (thân gia), là nơi dự trữ chất đinh dưỡng va 1 nước để nuôi cây, nơi đây là nơi quan trọng nhất của cây, rat dé bị virus xâm nhập va gây hại.
Vì vậy cần có một phương pháp đáng tin cậy, có hiệu quả cao, phát hiện virus OFV nhanh chóng và chính xác nhằm phát hiện cây đã bệnh, đã có biểu hiện hoặc chưa có biểu hiện nhằm cách li với khu vực trồng và có biện pháp xử lý phù hợp. Với những lí do trên nên tiến hành thực hiện đề tài “Chân đoán và phát hiện virus OFV (Orchid fleck virus) và CymMV (Cymbidium mosaic virus) gây hại trên cây hoa lan tại Tp. Hồ Chí Minh bằng kỹ thuật RT-PCR”. Mục tiêu đề tài Xây dung và hoàn thiện quy trình phát hiện sự hiện diện của virus OF V (Orchid fleck virus) và CymMV (Cymbidium mosaic virus) gay hại trên lan bang ky thuat Multiplex RT-PCR.
Nội dung thực hiện Nội dung 1: Xây dựng và hoàn thiện quy trình RT-PCR phát hiện sự hiện diện của từng loại virus CymMV và OFV gây hại trên hoa lan. Nội dung 2: Xây dựng và hoàn thiện quy trình Multiplex RT-PCR trong chan đoán phát hiện CymMV và OFV gây hại trên cây hoa lan. Chương II. TONG QUAN TÀI LIEU 2.
Sơ lược về cây hoa lan 2. Phần loại khoa học Giới (regnum): Plantae Bộ (ordo): Asparagales Ho (familia): Orchidaceae Phan ho (subfamilia): Epidendroideae Chi (genus): Phalaenopsis Tén khoa hoc: Phalaenopsis Blume Hinh 2. Cay lan (1825) Ho lan được xếp trong bộ Asparageles trong hệ thống APG II năm 2009. Phân loại họ này luôn luôn thay đối do các nghiên cứu mới vẫn tiếp tục nhận dang nhiều yếu tố phân loại mới.
Hiện tai cây hoa lan đã được công nhận 5 phân ho: Apostasioideae: 2 chỉ và 16 loài, tây nam châu Á. Cypripedioideae: 5 chi và 130 loài, khu vực ôn đới của thé giới cũng như nhiệt đới châu Mỹ và châu Á. Vanilloideae: 15 chi va 180 loài, khu vực cận nhiệt đới và ôn đới âm ướt, miền đông Bắc Mỹ. Epidendroideae: khoảng 650 chi và khoảng 18.000 loài, khắp thé giới.
Orchidoideae: 208 chi và khoảng 3.755 loài, khắp thế giới nhận dạng nhiều yếu tố phân loại mới. Nguồn gốc - phân bố của cây hoa lan Trung tâm dữ liệu Thực Vật Việt Nam, lan thuộc họ Orchideceae là một trong những họ lớn nhất của thực vật và có các chi mọc trên toàn thé giới (ngoại trừ vùng Cực). Họ phong lan phân bố từ 68° Bắc đến 56° Nam, nghĩa là từ gần cực Bắc như Thuy Điển , Alaska, xuống tận cuối cùng ở cực nam của Australia. Tuy nhiên tập trung phân bố của họ này là ở trên các vĩ độ nhiệt đới, đặc biệt châu Mỹ và Đông nam á.
3 Ngay ở các vùng nhiệt đới họ phong lan cũng phân bố rộng khắp từ vùng đầm lầy sát biển, hồ qua các đôi núi thấp lên các vùng núi cao. Mặc dù đa số các loài lan chỉ mọc ở độ cao dưới 2000 m so với mặt nước biển, song có một số ít loài sống cả ở độ cao 5000m so với mặt nước biển (ở Colombia có một số loài phong lan sống ở núi quanh năm tuyết phủ). Đến nay loài người đã biết được 750 chi, có khoảng 25. Qua kết quả lai tạo và chọn lọc, các nhà chọn giống và trồng lan đã bổ sung thêm 75.000 loài lan mới (Sapror bx-Tea huntum,1953; Camphell 1994).
Những cây lan là những cây bụi sống trên mặt đất được gọi là địa lan hoặc bám vào thân cây, cành cây được gọi là phong lan. Họ lan phân bố nhiều nhất trong 2 vùng nhiệt đới, có 250 chi và 6. Các loài đặc sản ở châu Mỹ gồm: Cattleya (60 loài), Epidendrum (500 loài), Odontoglosum (200 loài). ở vùng khí hậu ôn hoà số lượng loài giảm đi nhanh chóng và rõ rệt.
Bắc bán cầu có khoảng 75 chi và 900 loài. Nam bán cầu có khoảng 40 chi và 500 loài ( F. Lúc đầu lan chí được khai thác nhằm mục đích làm được liệu và hương liệu. Người ta cứ tưởng rằng cây lan được biết đến đầu tiên ở châu Âu qua bản viết tay bằng chữ Hy Lạp (Enenquiry into plans) của Theophrastus khoảng 379 đến 285 trước công nguyên) nhưng thực ra cây lan được biết đến đầu tiên ở phương Đông khoảng từ 551 — 497 trước công nguyên.
Cây lan được biết đến đầu tiên ở Trung Hoa là Kiến lan (vì được tím ra đầu tiên ở Phúc Kiến) đó là Cymbidium Ensifonymum là một loài bán địa lan. ở phương Đông lan được chú ý đến vì vẻ đẹp duyên dang của lá và hương thơm tuyệt vời của hoa (vì quan niệm thấm mỹ thời ấy chuộng tao nhã cứ không ưa phô chương sặc sỡ). Họ Orchidaceae phân bố rộng khắp thế giới, gần như có thể có mặt trong mọi môi trường sống, ngoại trừ các sa mạc và sông băng. Phan lớn các loài được tìm thấy trong khu vực nhiệt đới, chủ yếu là châu Á, Nam Mỹ và Trung Mỹ.
Chúng cũng được tìm thấy tại các vĩ độ cao hơn vòng Bắc cực, ở miền nam Patagonia và thậm chí trên dao Macquarie, gần với châu Nam Cực. Việt Nam có hơn 900 loài phong lan phân bồ rộng rãi trên cả nước. Chúng có khả năng sinh trưởng, phát triển tốt cho hoa đẹp, có thé sử dung làm nguôồn gen quý cho công tác lai tạo giống hoa lan. Đặc điểm thực vật học của cây hoa lan 2.
Cơ quan sinh dưỡng NHÓM ĐA THAN NHÓM ĐƠN THÂN — thân giả (giả hành) 2 ` thân mới Ww XK nine” A AN mắt lan Hình 2. Minh họa các cơ quan sinh dưỡng của cây hoa lan (Câm nang cây trồng) Ré lan: Họ lan bao gồm các cây thân thảo, sống lâu năm, sống ở đất, vách đá hoặc sống phụ, sống hoại. Khi sống ở đất, chúng thường có củ giả, rễ mập và xum xuê hoặc có chân rễ bò dài hay ngắn. Tuy nhiên, nét độc đáo của họ lan là lối sống phụ ( bì sinh) bám, treo lơ lửng trên các thân cây gỗ khác.
Hoa lan phát triển thân rễ nạc dài, ngắn, mập hay mảnh mai ( tuỳ thuộc vào từng loài) đưa cơ thể bò đi xa hay chụm lại thành các bụi dày. Hệ rễ phát triển nhiều hay ít phụ thuộc vào hình dạng chung của cơ thé. Nhiều loài lan rất nhỏ bé, hình dạng xấu xí, khó khăn lắm mới nhận được chúng trong kẽ nứt của vỏ cây gỗ, trên các cành, nhánh cao tít. Hệ rễ cũng nhỏ, đan thành búi, ngược lại ở các loài phong lan có kích thước lớn hay trung bình, hệ rễ khí sinh phát triển rất phong phú, mọc rat dai, mập, khoẻ vừa giữ cho cơ thé khỏi bị gió làm lung lay, vừa làm cột chống đỡ cho thân vươn cao.
Đề làm nhiệm vụ hap thu dinh dưỡng, chúng được bao bọc bởi một lớp mô hút day, âm, bao gồm những lớp tế bào chết chứa đầy không khí. Với lớp mô xốp đó, rễ không những có khả năng hap thu nước mưa chảy dọc trên vỏ cây mà còn lay được nước lơ lửng trong không khí (sương sớm hay hơi nước). Nhiều loài có hệ rễ đan, bén chang chit, là nơi thu gom mun để làm nguồn dự trữ chất đinh dưỡng cho cây. Ngược lại, có loài mọc bò dài, hệ rễ có khi buông thong xuống theo các đoạn thân, cứng hoặc mảnh mai, treo lơ lửng trong không khí kéo đài 5 xuống tận đất và hoạt động phá rễ của cây khác.
Ở một số loài lan có thân, lá kém phát triển (thậm chí tiêu giảm hoàn toàn) hệ rễ phá triển dày đặc và kiêm nhiệm luôn cả vai trò quang hợp. Rễ có dang det, bò rất dài, màu xanh như lá. Đặc biệt các loài phong lan sống hoại, bộ rễ có hình dạng, cấu trúc khá độc đáo. Nó có dang búi nhỏ với những voi hút ngắn, day đặc dé lay được đinh dưỡng từ những đám xác thực vật thông qua hoạt động của nam.