chương Irình tiếp cận điều trị Campuchia, Trung Quốc và Inđônêxia [55]. Ngày 1/7/2005 hội nghị quốc tế lần thứ 7 về phòng chống HỈV/AIDS khu vực châu Á- Thái Bình Dương đã khai mạc tại thành phô' Kobe Nhặt Bản với chù đế "Kết nối khoa học VỚI cộng đồng". Tạí hội nghị này UNAIDS dã cảnh báo: Nếu chan chừ châu Á sẽ có thèm 12 triệu người nhiễm H1V trong vòng 5 nỉim lới. Nếu tích cực châu Á có thể cứu được 6 triệu người trong số đó khỏi nhiễm HIV.
Các quốc gia châu Á- Thái Bình Dương đang đứng trước thời khác quyết định hoặc vẫn tiếp tục phòng chống HIV/AÍDS như cách làm hiện nay thì tình trạng nhiễm MTV và tử vong đo AIDS vẫn tiếp tục gia lăng. Hoặc sẽ tảng cường mở rộng các chương trình dự phòng và chăm sóc AIDS để có thể cơ bán nhanh chóng ngăn chận dịch dóng (h ời h ạn chê' đ ến m ức tối da những tổn thất về lính mạng con người và nổn kinh tế [31].3, Tình hình dịch Hiy/AIDS ở Việt Nam Trường hợp nhiễm HIV đầu liên ở Việt nam dược phát hiệii vào tháng 12 năm 1990 tại (hành phố Hổ Chí Minh. Nãm 1993 dịch bầt đẩu bùng nổ trong nhóm nghi ện chích ma tuý t ại thành phô' Hổ Chí Minh. Chì sau 5 năm dịch đã lan tràn trốn ph ạm vi c ả nước.
Từ năm 2000 đ ốn nay mồi năm Việt nam phát hiện thêm trung bình từ 12.000 tr ường h ợp nhi ễm HIV, Hiện nay cứ 75 hộ dàn ước tính có khoáng 1 hộ gia đình dã có người nhiễm H ỈV. Theo th ống kê mới nhất cùa Uỷ ban Quốc gia phòng chống AIDS và phòng chống tệ nạn ma tuý mại dâm, tính 9 đến 30 tháng 6 năm 2005 toàn quốc đã phát hiện: - 96.704 người [ihiỄm HỈV.772 người đã chuyển sang giai đoạn AIDS. - 9049 bệnh nhân Al DS đã tử vong. Một sơ tinh có tỷ lệ nhiễm lính trên 100.000 dàn đặc biệl cao như [42]: - Quảng Ninh: 580,47/100.000 dân - Hải Phòng: 338,67/ 100.000 dân - Thành phố Hổ Chí Minh: 249,72/100.000 dàn - Bà Rịa- Vũng Tàu: 235,99/100.000 dân - Hầ Nội: 181,38/100.000 dán Điển biển dịch H1V/AIDS ờ Việt Nam có thể chia Ihành ba thời kỳ: - Từ năm i 990 - 1993: dịch tập trung ở một số tĩnh phía nam với sô nhiễm HIV phái hiện dưới 1.500 trường hợp mỗi nãm chủ yếu là người nghiện chích ma tný.
- Từ nàm 1994 - 1998: Dịch lan ra tọàn quốc với sỏ nhiêm H1V phái hiện hàng năm dưới 5000 trường hợp, khoảng 2/3 trong sơ nhiễm là do TCMT. - Tử nỉim ] 999 - 2002; Dịch bùng nổ tại các linh phía Bẳc trong nhóm thanh niên trẻ dưới 30 tuổi tiêm chích ma luý cớ xu hướng lan rộng với sơ nhiễm HIV phát hiện tiên 10.000 trường hợp mồi năm. - Tứ năm 2000 dến nay dịch Liếp tục gia tăng với sơ nhiêm m ỏi năm t ừ 12.000 trương hợp. So sárih tinh hình nhiẻrn HỈV/AỈDS ở Việt nam giai đoạn 1990 - 2000 với giai đoạn 200ỉ -2003 Số lượng Giai đoạn 1990-2000 Giai đoạn 2001-2003 Tỷ lệ tàng Nhiễm HIV 32.865 26,3% Bệnh nhân AIDS 4918 6741 27% Tử vong do AIDS 2561 3989 35,8% (Nguồn số Ịịệii: Uỷ ban qiỉổc gia phòng chống AIDS vá phùng chống tệ nạn ma Ỉỉtỹ, mại dâfn, năm 2004) 10 Một số đặc điểm lình hình dịch HĨV/AĨDS ớ Việt Nam hiện nay: - Dịch HIV/AIDS tiếp tục có chiểu hướng gia lăng.
- Hình thái ỉâỵ nhiễm HĨV chù yếu qua tiôm chích ma tuý. - Đối lượng nhiễm có xu hướng trẻ hoá. - Dịch H1V đã có d;ĩu hiệu lây lan ra cộng đổng: biểu hiện qua lý lệ nhiễm HỈV/A1DS trong nhóm phụ nữ mang thai và nhóm thanh niên khám tuyển nghĩa vụ quân sự. - Đới tượng nhiễm HIV/AĨDS tại Việt nam đa dạng, có ở mọi địa phương và diễn biến phức tạp.
Theo kết quả ước tính dự báo liến hành năm 2001 (phối hợp giữa Bộ Y té, WHO, UNAIDS, sử dụng mô hình EP1MODF.L dự báo): vào năm 2005 Việt nam sẽ có 197.500 người nhiễm HIV với sớ lăng trung bình mỗi năm lừ 12.000 người nhiễm mới. Cũng theo dự báo này, vào năm 2010 nước ta sẽ có gần 351.000 người nhiễm H1V, trưng bình mỗi năm sẽ có thêm khoáng 20,000 dến 30.000 người nhiễm mới. LiỄn quan với việc chuẩn bị hệ thống chăm sóc y tế, sẽ có thêm khoảng 5000-10.000 bệnh nhân AIDS mới hàng Hãm ít nhất trong 3 năm tiếp theo (5'1. ước tính Ỉỉíỹ tích các trường hợp nhiễm HIVỈAIDS và tử vong do AIDS giai đoạn 2003 • 2010 2003 2004 2005 2006 2007 2008 2009 2010 H1V 165.702 ị Nguồn sô'liệu: Uỳ ban quổc gia phòng chống AIDS và phông chống tệ nạn ma ntý, mại dâm, năm 2004) 1.
Tầm quan trọng của công tác chàm sóc hồ trợ cho người nhiễm HIV/AIDS Cùng với sự gia lãng nhanh chóng sô' người nhiễm HIV/A1DS, công tác quán lý, chũm sóc. lư vấn người nhiễm HIV/AỈDS đã, đang và sẽ là vấn đề cấp bách ở n ước ta. Vì đ ặc thù cúa ng ười nhiễm H1V là có thể sống khoẻ mạnh trong nhiêu năm (trung bình t ừ s đ ến 10 năm) [32] nên trong (hời gian đó, nếu không được chăm sóc và tư v ấn l ốl h ọ sẽ làm lây truy ền HIV sang nhi ều người khác. Theo xu hường phát 11 triển của dịch, nhu cấu về chàm sóc, tư vấn và hỗ trợ cho người nhiễm HIV/AiDS đang ngày càng tăng, nhất là khi hầu hết những người nhiễm HIV hiện nay sẻ chuyển sang giai đoạn AIDS trong nay mai.
AIDS là một giai đoạn bệnh với nhiều bệnh nhiém trùng cơ hội, người mắc AIDS chĩ phải vào viện điều trị những bệnh nhiễm trùng cơ hội nặng còn phần lớn việc chăm sóc và tư vấn cho bệnh nhân AIDS sẽ diễn ra tại gia đùrh và cộng đổng. Khi số người nhiễm HIV/A1DS tăng lên (rong vài năm tới như dự báo thì vấn để châm sóc và tư vốn hỗ trợ đang trở thành một vấn dể lớn cán phải đương đầu. Mặt khác nghĩa vụ dạo đức, trách nhiệm và tình thương dời hòi chúng ta cưng cãp những dịch vụ châm sóc, tư vấn hỗ trợ thích hợp và khá thi cho người nhiêm ĨĨĨV/AĨDS vì họ là những ngươi bệnh như mọi người bệnh khác [36]. Chương trình chãm sóc, tư vấn hổ (rợ người nhiem HĨV/AIDS là một cách tiếp cận nhằm tận dụng những nguồn lực sẩn có đế cung cấp các địch vụ châm sốc người nhiễm HIV/AIDS một cách phù hợp ở mọi cấp độ từ gia đình cho đến bệnh viện [14].
Nhiều nước trẽn thê' giới, đặc biệt là ở một sô' nước Cháu Phi, nơi có sô người nhiễm HIV lẽn đến xấp xi 10% dản số đã nhặn thấy vai trò quan trọng của công tác quản lý, chăm sóc người nhiễm, ở Zambia, một quốc gia Châu Phi chịu nhiều ảnh hưởng nặng nề cùa dịch với 1,8 triệu người nhiễm chiếm 28% dân số, 47 chương trình chăm sóc người bệnh nhiễm tại nhà đã dược triển khai từ năm 1987 và là bài học thành công cho nhiều nước khác [56]. Một nghiên cứu về các chương trình chãm sóc lại nhà cũng đả được tiến hành tại Zambia đã cho thấy: Các chi phí chũm sóc dược giam thấp, sự tăng íihu càu về sô giương bệnh ờ các bệnh viện giảm xuống và như vậy sẽ giảm nhẹ một sô' áp lực lên các cơ sở y tê' và các trung tâm chãm sóc xã hội. Chính phủ Zambia còn đáp ứng bằng việc thòng qua chính thức chương trình châm sóc sức khỏe tại nhà như là một phần của chiến lược sức khỏe, thúc đẩy các cơ quan y tê huyện hỗ trợ chăm sóc tại nhà và khuyến khích các chương trình chăm sóc tại nhà để lũng tính hiệu quả thông qua tãng cường lổng ghép với châm sóc sức khỏe ban đâu. Các ch ương trình này mang l ại ngu ổn an ùĩ và dịch vụ to lớn cho hàng nghìn người nhiễm Ĩ1ỈV/AIDS, gia đình và cộng đồng cùa họ [36].
12 Những bài học thành công ở các nưóc khác như Brazil, Nam Phi, Kenya, Philippines và Thái Lan cho thấy gia đình và các tổ chức xã hội đóng vai Trò rất quan trọng trang việc chăm sóc. hỗ trợ người nhiẽm cũng như người chịu tác động của HIV/AIDS. Cùng vời các Ihành viên trong gia đình, những người tình nguyện, cííc cộng tác viên Cũng đóng vai trò quan trọng trong việc Cham sóc. hồ trợ người nhiêm và làm cầu nôi giữa người nhiễm, gia đình người nhiêm với các trung tâm y tế và sự hỗ Irự của các tổ chức xả hội khác.
Các bài học thành cõng này đà được Chương trình phòng chống AIDS của LiẺn Hiệp Quốc (UNAIDS) tổng kết, giới thiện rộng rãi đế các nước nghiên cúư áp dụng[8]< Chăm sóc toàn diện cho NNH1V/AÍDS bao gổm : tư vãn hỏ trợ liên tục, điỂu tri dự phòng và diều trị các bệnh nhiiẫm trừng cơ hội, diểu trị ARV và điểu trị hố trơ [47]. Quan điểm về mỏi chương irình chăm sóc và hỗ trợ toàn diện nhiêm H1V/A1DS là dáp ứng tổng thể các nhu cáu của người nhiễm HỈV/AIDS. gia đình họ, những người chăm sóc và c ộng đồng cả về thể chat, tinh thần và xã hội trẽn bốn lĩnh vực sau: 1. Nhu cầu vế thong tin • Hầu hết những người nhiỄm H1V/A1DS dềư có nhu cầu được cưng cấp các thông tin liên quan đến HIV/AIĐS như phương thức lây truyền HĨV, các yêu lô nguy cơ làm tăng lay truyền H1V, biểu hiện cùa bệnh, thuốc đicu trị, khá năng ehữa trị.
để lừ đó họ có các biện pháp phòng lay nhiễm cho người thân và cho cộng đổng. • Trong điều kiện hiện nay, những người nhiỄm HTV/AĨDS chưa liếp côn được với thưóc điỂu tộ đặc hiọu, vì vậy họ luôn cớ nhu cáu ùm hiểu và mong muốn được cung cấp các kiến thức về cách chàm sóc, các biện pháp duy trì sức khỏe để họ có thể tự chăm lo cho sức khỏe cúa mình vù gia đình có thể chiim sóc sức khòe cho họ lại nhí một cách an toàn. Các hoạt dộng của ngành Y té, các ban ngành doàn thể và phương tiện thông ỉin đại chúng trước đíìy chỉ tập trung vào tuyên truyền giáo dục các biện pháp phòng ngừa lây nhìẻm HIV mà ít Láp trung vào vân đề chiim sóc hồ trợ cho ngườỉ 13 nhiễm HIV/A1DS, vì vây họ thực sự thiếu hiểu biết và rất cần các thôiìg tin về cách chấm sóc và hỗ trợ dói với những người nhicm ỈĨĨV/AĨDS. • Người nhiễm ỈỈIV/AĨDS đều có mong muốn được cung cấp các thõng tin về dịch vụ hỗ trợ cân thiết như là dịch vụ tư vân., các thông tin vẽ thuốc men điều trị, nhu cầu được chuyển viện khi cần thiết, cúc chủ trương chính sách của Đảng và Nhà nước đới với nhũng người nhiêm HÍV/AĨDS.