CHƯƠNG 1 TÔNG QƯAN TÀI LIỆU l.Tình hình dịch HIV 1. Tình hình dịch HIV trên thể giới và châu Ả Virủt HIV được phát hiện đầu tiên vào năm 1981 tại Mỹ, cho đến nay dịch H1V đã trở thành đại dịch trên toàn cầu. Con sổ những người bị nhiễm HIV vẫn không ngừng tăng lên. Theo ước tính của UNAIDS kể từ năm 1990 số người sống chung với HIV mới chỉ dừng lại 7,5 triệu người (7triệu-12 triệu).
10 năm sau vào năm 2000 con số đó đã tăng lên gấp khoảng 4 lần là khoảng 28,5 triệu người (27 triệu-32 triệu). Ke từ đó đen nay thì dịch vẫn có xu hướng tãng chậm lại, cụ thể vào năm 2001 là 29,2 triêụ (26 triệu-33 triệu) đến năm 2007 là 33,5 triêụ (30 triệu -36 triệu) [25]. Hiện mỗi ngày có thêm 6.800 người bị nhiễm HIV và trên 5.700 người tử vong vì AIDS chủ yếu là do không được tiếp cận đầy đủ với các dịch vụ dự phòng và điều trị HIV. Đại dịch HIV vẫn là căn bệnh lây truyền nguy hiểm nhất đe dọa sức khỏe cộng đồng.
Nguy cơ lây nhiễm HIV, xu hướng tình dục trong thanh niên có thể cung cấp thông tin về những biến động gần đây cùa tình hình dịch HIV tại nhiều quốc gia. Cụ thể là những xu hướng về tỷ lệ nhiễm HIV trong nhóm thai phụ từ 15-24 tuổi, những người có thể vừa mới bị nhiễm HIV, hiện không chịu ảnh hưởng của tỷ lệ tử vong và điều trị ARV nhiều. Do đó các xu hướng về tỷ lệ nhiễm HIV trong đổi tượng 15-24 tuổi được coi là có thể phản ánh chính xác nhất các xu hướng lây nhiễm HIV [25]. Tại Châu Á, Đông Nam Á là nơi có tỷ lệ nhiễm H1V cao nhất, tỷ lệ hiện nhiễm tại Cam-pu- Chia và Thái Lan có xu hướng giảm thì tại Inđônêxia và Việt Nam lại đang có dấu hiệu tăng.
Trong năm 2007 ước tính trên toàn châu Á có 4,9 triệu [3,7 - 6,7 triệu] người đang sống với HIV, trong đó có 440.000 - 1 triệu] người nhiễm mới.000] người đã tử vong vì các bệnh liên quan đến AIDS [34], 8 1. Phụ nữ sống với HIV Tổng số ước tính các ca nhiễm mới ở nam giới và phụ nữ từ năm 2001 đến năm 2007 cũng tăng tương tự. Con số 15,4 triệu [13,9 - 16,6 triệu] phụ nữ đang sống với HIV trong năm 2007 đã tăng thêm 1,6 triệu so với con số 13,8 triệu vào năm 2001. Đổi với nam giới, ước tính 15,4 triệu [14,3 - 17 triệu] người đang sống với HIV trong nãm 2007 so với 13,7 triệu [12,6 - 15,2 triệu] vào năm 2001.
Tại Cận Sahara Châu Phi, 61% người lớn đang sổng cùng HIV là phụ nữ, trong khi tại khu vực Ca-ri-bê con số này là 43% (so với 37% năm 2001). Tỷ lệ phụ nừ sống với HIV tại Châu Mỹ La-tinh, Châu Á và Đông Âu cũng đang tăng, HIV bị lây nhiễm sang những người phụ nữ là bạn tình của những người đàn ông rất có thể đã bị nhiễm qua tiêm chích ma túy, hoặc qua mại dâm không an toàn, hoặc qua quan hệ tình dục với bạn đồng tính nam. Tại Đông Âu và Trung Á, ước tính phụ nữ chiếm 26% số người lớn có HIV trong nám 2007 (so với 23% năm 2001), trong khi tại Châu Á tỷ lệ đó lên đến 29% năm 2007 (so với 26% năm 2001) [27] 1. Tình hình dịch HIV tại Việt Nam Tại Việt Nam theo số liệu báo cáo tình hình dịch H1V/AIDS 6 tháng đầu năm 2009 của cục phòng chổng HIV/AIDS thì tổng số những người nhiễm HIV còn sổng 149.653 người, sổ bệnh nhân AIDS còn sống là 32400 người, sổ bệnh nhân HIV/AIDS đã tử vong là 43265 người [4].
Dịch HIV/AIDS tập trung ở những nhóm đối tượng nguy cơ cao cụ thể là chiều hướng nhiễm HIV trong nhóm nghiện chích ma túy tăng mạnh từ năm 1996 (11%) đến năm 2001 (29,4%), 2004 (28,6%) và có xu hướng giảm dần chậm lại từ năm 2005 (25,6%) cho đến nay (2009) là (20,3%) [5]. Tỷ lệ hiện nhiễm HIV trong nhóm nghiện chích ma túy vẫn cao nhất trong các nhóm quần thể có nguy cơ cao, nhóm phụ nữ mại dâm có sử dụng ma túy. Chiều hướng nhiễm HIV trong nhóm phụ nừ mại dâm từ nãm 2006 (4,2%) cho đến nay (3,1%) cũng có xu hướng giảm dần, tuy nhiên xu hướng này không ổn định vì nó luôn là đồ thị hình sin từ năm 2001 cho đến nay [5], Tỷ lệ người nhiễm HIV theo giới vẫn tiếp tục ổn định, nam giới (80%) bị nhiễm HIV cao gấp 4 lần so với nữ giới (20%). Tính từ năm 2003 đến 6/2009 thì xu hướng 9 nhiễm HIV trẻ hóa qua các năm, tỷ lệ nhiễm HIV tập trung đông nhất ở nhóm tuổi 20-29 (52%), tiếp đến là nhóm 30-39 (32%).
ước tính số người nhiễm HIV/AIDS giai đoạn 1992-2012 vẫn tiếp tục tãng, năm 2007 có khoảng 220.000 người nhiễm HIV, ước tính năm 2009 có khoảng 242.557 người nhiễm HIV, vào năm 2010 sẽ là 254.000 người và tiếp tục tăng lên trên 280. Tỷ lệ mới nhiễm HIV có chiều hưởng giảm xuống, tỷ lệ mới nhiễm cao nhất vào năm 2000 với 67 trường hợp mới nhiễm trên 100.000 dân và sẽ giảm xuống 39 (trong 100. Dịch HIV/AIDS đang lan ra cộng đồng bàng chứng là số phụ nữ có thai nhiễm HIV vẫn tiếp tục tăng lên trong những năm tới, ước tính có 4800 phụ nữ mang thai nhiễm HIV vào năm 2012. số lượng nam giới nhiễm HIV cao gấp 3,5 lần so với phụ nữ mặc dù tỷ suất này sẽ giảm xuống còn 2,6 vào năm 2012 do lây nhiễm HIV từ nam giới đã nhiễm HIV sang vợ, bạn tình của họ, điểu này cũng có thể hiện qua số phụ nữ mang thai nhiễm HIV tiếp tục tăng và hậu quả là sẽ truyền HIV sang cho thai nhi.
Nhóm phụ nữ mang thai bị nhiễm HIV tại Việt Nam ở tất cả lứa tuổi tính từ năm 2000 có khoảng 2000 phụ nữ, đến nãm 2008 con sổ này cũng đã tăng lên gap 2 lần vào khoảng 4000 phụ nữ mang thai bị nhiễm HIV, ước tính vào năm 2012 sẽ tăng lên xấp xỉ 5000 phụ nữ mang thai bị nhiễm HIV [5]. Tỷ lệ hiện nhiễm trung bình ở nhóm phụ nữ trong độ tuổi 15-49 từ năm 2000 là 0,095%, đến năm 2008 đã tăng lên là 0,22 %, ước tính năm 2012 con sổ này sẽ tăng lên 0,265%. Tỷ suất trung bình nam/nữ ở nhóm từ 15 tuổi trở lên vào năm 2000 là 3,24%, tỳ suất này có xu hướng giảm dần và đến năm 2008 là 2,9%, dự báo vào năm 2012 con sổ này sẽ giảm xuống còn 2,53% [5], điều này cho thấy là số phụ nữ bị nhiễm HIV tiếp tục tăng lên. Tình hình dịch HỈV tại Hưng Yên Hưng Yên là thuộc vùng Châu thổ sông Hồng, tính từ năm 1990 có 0,0% số phụ nữ mại dâm nhiễm HIV, nhưng đến năm 2000 đã là 1,6%, đến năm 2008 là 13,1%.
Dự báo con số này tiếp tục tăng lên xấp xỉ 14% vào năm 2012 [5]. Theo số liệu báo cáo của trung tâm Phòng chống HIV/AIDS tỉnh Hưng Yên, đến hết 20/11/2008 tổng số nhiễm HIV trên địa bàn là 100% các huyện và 10 85% các xã có người bị nhiễm HIV, có 908 trường hợp nhiễm HIV, điển hình là thị xã Hưng Yên 223 trường hợp, huyện Khoái Châu 119 trường hợp, Tiên Lữ 111 trường hợp, Yên Mỹ 106 trường hợp.Trong đó chuyển sang AIDS 305 trường hợp và tử vong là 233 trường hợp. sổ người bị nhiễm HIV chủ yếu tập trung ở lứa tuổi thanh niên từ 22-29 [20]. số phụ nữ bị nhiễm HIV tại huyện đều là lây từ chồng sang và có 7 trường hợp đang điều trị thuốc kháng vi rút.
Phụ nữ bị nhiễm các bệnh phụ khoa nói chung và các bệnh lây truyền qua đường tình dục nói riêng thì nguy cơ lây nhiễm HIV/AIDS lại càng cao. Năm 2007 có 16085 phụ nữ đến khám phụ khoa, 5433 người điều trị [23], Đen năm 2008 có 8081 phụ nữ đển khám phụ khoa, 5163 người đến điều trị [21]. Tìm hiểu tính dễ tổn thương vói HIV 2. Giới và tính dễ bị ton thương với HIV/AIDS.
“Giới tính” được dùng thay cho cả “giống” và “giới”. Khái niệm giới (gender) chỉ mối quan hệ xã hội và tương quan giữa địa vị xã hội của nữ và nam trong bối cảnh xã hội cụ thể. Khi nỏi đen giới, là nói đen các điều kiện và yeu tố xã hội quy định vị trí và hành vi xã hội của mỗi giới trong hoàn cảnh cụ the. Chính vì được quy định bởi các yếu tổ xã hội cho nên vị trí, vai trò và hành vi của giới không phải là bất biến mà thay đoi khi các điều kiện quy định chúng biến đổi [3], Giống (Sex) hay còn gọi là giới tính chỉ sự khác biệt giữa nam và nữ về mặt sinh học.
Sự khác biệt này chủ yếu liên quan đến chức năng tái sản xuất giông nòi và do các yểu tố tự nhiên quy định, nói đến giổng là nhấn mạnh tính ổn định trong tương quan giữa nam và nữ xét về chức năng sinh sản. Đây là chức nâng tự nhiên do gen quy định và chúng hầu như bat biển đổi giữa nam và nữ [3]. Tính dễ bị tổn thương (vulnerability) là tính nhạy cảm của một quần thể với một loại hiểm họa nhất định. Các yếu tổ ảnh hường đó là địa lý, nhân khẩu, kinh tế, tuổi, giới, khả năng hồi phục môi trường, sự khác biệt xã hội, kỹ thuật, nền kinh tể chính trị của vùng toàn cầu [8], Cụ thể với H1V/AIDS là sự nhạy cảm, nguy cơ với các hành vi có nguy cơ với HIV/AIDS, các bệnh lây truyền qua đường tình dục, sự bat bình đắng nam, nữ làm cho những người phụ nữ bị hạ 11 thấp vị thế trong gia đình và xã hội, trong việc gia quyết định, trong việc quan hệ tình dục, họ có thể bị cưởng ép tình dục hoặc quan hệ tình dục không mong muổn, hoặc quan hệ không sử dụng bao cao su, điều này cũng làm tăng lên những nguy cơ về sức khỏe thể chất, tinh thần người phụ nữ.
Đó cũng là yểu tổ làm tãng tính nhạy cảm của phụ nữ với HIV/AIDS hay nói cách khác đó là tăng tính tổn thương của phụ nữ với HĨV. Các yếu tố này là do ảnh hưởng của yếu tổ xã hội, văn hóa tác động lên hành vi con người. Ví dụ như văn hóa Nho giáo là coi trọng nam giới “ trai năm thê, bảy thiếp, gái chính chuyên chỉ có một chồng”.