ĐẶT VẤN ĐỀ HIV/AIDS hiện nay vẫn đang là vấn đề sức khỏe mà cả cộng đồng quan tâm, là một trong những nguyên nhân hàng đầu gây ra gánh nặng bệnh tật ở Việt Nam, và cũng tác động đến chất lượng cuộc sống của cá nhân người nhiễm HIV và toàn xã hội. Trong thời gian qua, Việt Nam có nhiều thành tựu trong việc phòng chống HIV/AIDS nhưng dịch HIV vẫn đang tiềm ẩn nguy cơ bùng phát nguy hiểm. Trong 9 tháng của năm 2018, cả nước phát hiện mới 7.497 người nhiễm HIV, số bệnh nhân chuyển sang giai đoạn AIDS là 2514, số bệnh nhân tử vong là 1436 trường hợp. Số trường hợp nhiễm mới HIV tập trung chủ yếu ở độ tuổi 16-29 (38%) và 30- 39 (36%).
Đường lây chủ yếu là quan hệ tình dục không an toàn (63%) và qua đường máu (23%). Số người nhiễm HIV được báo cáo còn sống là 208.750 trường hợp, lũy tích người nhiễm HIV tử vong được báo cáo là 98.519 trường hợp (1). Điều trị bằng thuốc ARV ở người nhiễm HIV ngày càng được mở rộng và có thêm nhiều bằng chứng khoa học về hiệu quả của điều trị ARV. Khi người nhiễm HIV tuân thủ điều trị tốt, không chỉ cải thiện chất lượng cuộc sống của bản thân mà còn giảm lây truyền HIV sang người khác (2).
Nhiều bằng chứng đã chỉ ra các hiệu quả tích cực về lâm sàng, miễn dịch cũng như chất lượng cuộc sống (CLCS) của bệnh nhân được điều trị ARV, trong đó CLCS là một chỉ số đầu ra quan trọng trong đánh giá hiệu quả của các chương trình can thiệp y tế. Đo lường sự thay đổi về CLCS của người nhiễm HIV là những bằng chứng cần thiết trong quá trình đánh giá hiệu quả can thiệp, và đóng góp đáng kể vào quy trình quản lý bệnh nhân và phân bổ nguồn lực. Đánh giá CLCS của người nhiễm HIV đang được sử dụng ngày càng nhiều trong những năm gần đây, đặc biệt khi HIV/AIDS đang dần được nhìn nhận như một căn bệnh mãn tính cần được điều trị lâu dài. Đánh giá CLCS giúp bổ sung thêm cho các đo lường truyền thống về bệnh tật và tử vong liên quan đến HIV.
CLCS được chứng minh là có liên quan đến các đặc điểm lâm sàng và miễn dịch của bệnh nhân HIV/AIDS, bao gồm nhiễm trùng cơ hội, tình trạng miễn dịch và tải lượng virus. Hơn nữa CLCS còn bao gồm các khía cạnh rộng lớn hơn của bệnh nhân sống chung HIV/AIDS như tâm lý, quan hệ giữa các cá nhân, xã hội và môi trường (3). Đo lường CLCS có thể phản ánh tốt hơn sự thay đổi và hiệu quả điều trị ở bệnh nhân HIV/AIDS vì theo định nghĩa của WHO “Sức khỏe là trạng thái thoải mái toàn diện về thể chất tinh thần và xã hội không phải chỉ bao gồm có tình trạng 2 không có bệnh hay thương tật”. Việc đánh giá đúng ảnh hưởng của các yếu tố dịch vụ cũng như cộng đồng là hết sức cần thiết trong giai đoạn mở rộng nhanh chóng chương trình điều trị ARV, đặc biệt trong thời gian sắp tới triển khai khám điều trị ARV thông qua Bảo hiểm y tế.
Qua đó góp phần xác định các yếu tố hành vi và xã hội nhằm giúp nâng cao chất lượng dịch vụ cũng như can thiệp cộng đồng, giúp người bệnh ổn định được chức năng và vai trò xã hội của mình, giảm thiểu tác động của HIV/AIDS đến xã hội (4). Trong nghiên cứu này chúng tôi đã mô tả CLCS và phân tích một số yếu liên quan của người nhiễm HIV đang điều trị ARV tại Trung tâm y tế Nha Trang năm 2020. Qua nghiên cứu đã phân tích điểm trung bình theo từng khía cạnh CLCS, một số yếu tố liên quan đến CLCS trình độ học vấn, nghề nghiệp, tình trạng miễn dịch, tình trạng lâm sàng, cận lâm sàng, tuân thủ điều trị, sự chia sẽ và sự kì thị trong xã hội với người nhiễm. Theo báo cáo của Phòng khám điều trị ngoại trú cho người nhiễm HIV tại Nha Trang, tính đến tháng 09/2019 có 484 người nhiễm đang được điều trị tại phòng khám, chiếm hơn 50% so với toàn tỉnh Khánh Hòa, trong số người nhiễm đang điều trị nam giới chiếm tỷ lệ cao, 324 người chiếm 66,9% , nữ 164 chiếm 33,1% (5).
27/27 xã phường tại Thành phố Nha Trang đều có người nhiễm HIV đang điều trị tại phòng khám, hiện nay tại Nha Trang chưa khám điều trị ARV thông qua thẻ bảo hiểm y tế, nguyên nhân do thiếu nhân lực, cơ sở vật chất, chính sách cho người nhiễm khi khám bệnh bằng thẻ bảo hiểm. Hiện tại số người nhiễm đang điều trị tại phòng khám đến từ nhiều ngành nghề khác nhau, độ tuổi khác nhau, trình độ độ văn hóa khác nhau và cũng để đánh giá được CLCS của người nhiễm HIV đồng thời góp phần cải thiện CLCS của người nhiễm HIV ngày càng tốt hơn, và bổ sung đánh giá CLCS như một đo lường để đánh giá hiệu quả việc điều trị ARV, vì lí do đó chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài “Chất lƣợng cuộc sống và một số yếu tố liên quan của ngƣời nhiễm HIV đang điều trị ARV tại phòng khám ngoại trú thuộc Trung tâm y tế Nha Trang năm 2020”. 3 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU 1. Mô tả chất lượng cuộc sống của người nhiễm HIV đang điều trị ARV tại Trung tâm y tế Nha Trang năm 2020.
Phân tích một số yếu tố liên quan đến chất lượng cuộc sống của người nhiễm HIV đang điều trị ARV tại Trung tâm y tế Nha Trang năm 2020. 4 Chƣơng 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 Một số khái niệm HIV là virus gây suy giảm miễn dịch ở người. AIDS có nghĩa là Hội chứng suy giảm miễn dịch mắc phải (6). Nhiễm HIV ở người lớn được phân thành 4 giai đoạn lâm sàng, tùy thuộc vào các triệu chứng bệnh liên quan đến HIV ở người nhiễm - Giai đoạn lâm sàng 1: Không triệu chứng -Giai đoạn lâm sàng 2: Triệu chứng nhẹ -Giai đoạn lâm sàng 3: Triệu chứng tiến triển -Giai đoạn lâm sàng 4: Triệu chứng nặng (2).
Tình trạng miễn dịch của người lớn nhiễm HIV được đánh giá thông qua chỉ số tế bào CD4 và tải lượng virus (2). Phƣơng pháp điều trị - Phác đồ điều trị ARV bậc một: AZT + 3TC + NVP hoặc d4T + 3TC + NVP -Phác đồ điều trị bậc 2: TDF + 3TC + LPV/r hoặc ATV/r Theo dõi về lâm sàng và xét nghiệm trên người bệnh đang điều trị thuốc ARV phác đồ bậc 2 tương tự như phần theo dõi điều trị phác đồ ARV bậc 1 (2). Tiêu chuẩn đánh giá thất bại điều trị ARV -Thất bại về lâm sàng: Xuất hiện mới hoặc tái phát các bệnh lý giai đoạn lâm sàng sau khi điều trị ít nhất 6 tháng -Thất bại về miễn dịch học : CD4 giảm xuống bằng hoặc dưới mức CD4 ban đầu trước khi điều trị, hoặc CD4 giảm dưới một nửa so với mức CD4 cao nhất đạt được, hoặc CD4 dưới 100 tế bào/mm3 máu liên tục trong 1 năm liền không tăng -Thất bại virus học : Tải lượng virus đo được trên 5.000 phiên bản/ ml (2).3 Chất lƣợng cuộc sống Theo định nghĩa của WHO năm 1997 về CLCS: “Chất lượng cuộc sống là nhận thức mà cá nhân có được trong đời sống của mình, trong bối cảnh văn hoá, và hệ thống giá trị mà cá nhân sống, trong mối tương tác với những mục tiêu, những mong muốn, những chuẩn mực, và những mối quan tâm. Đó là một khái niệm rộng phụ thuộc vào hệ thống phức hợp của trạng thái sức khoẻ thể chất, trạng thái tâm lý 5 hay mức độ độc lập, những mối quan hệ xã hội và môi trường sống của mỗi cá nhân” (7).2 Tình hình HIV/AIDS trên thế giới và Việt Nam 1.
Tình hình HIV/AIDS trên thế giới Trong 40 năm qua, đại dịch HIV/AIDS đã cướp đi sinh mạng của hơn 35 triệu người trên thế giới. Theo thống kê của Chương trình phối hợp của Liên hợp quốc về HIV/AIDS (UNAIDS), trên toàn thế giới có 37,9 triệu người đang sống chung với virus nguy hiểm này và 23,3 triệu người bệnh đang điều trị bằng thuốc kháng HIV (ARV). Số lượng mới mắc là 1,7 triệu người. Tổng số tử vong do AIDS là 770.
Trong số người nhiễm có 36,2 triệu người trưởng thành, 1,7 triệu trẻ em dưới 15 tuổi. Năm 2018, số ca tử vong do nhiễm HIV đã giảm còn khoảng 770.000 trường hợp, giảm 30.000 ca so với năm 2017 và giảm 33% so với năm 2010 - thời điểm cả thế giới ghi nhận 1,2 triệu ca nhiễm HIV tử vong. Đặc biệt, trong khi số ca tử vong liên quan đến AIDS tại châu Phi - khu vực chịu ảnh hưởng nặng nền nhất của căn bệnh này, giảm trong thập kỷ vừa qua, thì khu vực Đông Âu lại ghi nhận số ca tử vong tăng 5%, khu vực Trung Đông và Bắc Phi cùng ghi nhận mức tăng 9%. Số ca nhiễm mới ở các khu vực này cũng có mức tăng lần lượt 29% và 10%.
Hơn 50% các ca nhiễm HIV mới trên toàn cầu thuộc nhóm người có nguy cơ cao như người sử dụng ma túy, quan hệ đồng giới, chuyển giới, người làm nghề mại dâm và tù nhân. Và có chưa tới 50% những người trong nhóm này được sử dụng các biện pháp phòng ngừa HIV. Trong năm 2018, toàn thế giới có hơn 160.000 ca nhiễm HIV mới là trẻ em, giảm 41% so với năm 2010, song vẫn nhiều gấp 4 lần so với mục tiêu đề ra (8-10) 1. Tình hình HIV/AIDS tại Việt Nam Trong 9 tháng đầu năm 2019, Việt Nam đã phát hiện mới gần 7.800 trường hợp nhiễm HIV, gần 3.000 bệnh nhân chuyển sang giai đoạn AIDS, hơn 1.400 trường hợp tử vong.
Ước tính đến nay, Việt Nam có khoảng hơn 211.000 người nhiễm HIV. Số người mới phát hiện nhiễm HIV tập trung chủ yếu ở độ tuổi 16-29 (39%) và 30-39 (34%). Trong đó, đường lây chủ yếu là quan hệ tình dục không an toàn (65%) và qua đường máu (17%), mẹ sang con 2%, còn lại không có thông tin 6 về đường lây truyền (16%). Theo Phó Giáo sư Nguyễn Hoàng Long, Cục trưởng Cục Phòng, chống HIV/AIDS (Bộ Y tế), tỷ lệ nhiễm HIV trong nhóm nghiện chích ma túy đang có xu hướng giảm.
Nhưng thay vào đó tỷ lệ của nhóm nam quan hệ tình dục đồng giới đang ngày càng gia tăng và có khả năng sẽ trở thành nhóm chính trong lây nhiễm HIV. Bên cạnh đó, các nhóm có nguy cơ thấp như nhóm vợ, chồng, bạn tình người nhiễm HIV vẫn còn tiềm ẩn nhiều nguy cơ làm lây truyền HIV, do khó tiếp cận với các dịch vụ tư vấn xét nghiệm và can thiệp dự phòng.