Tổng quan nghiên cứu

Tật khúc xạ học đường, đặc biệt là tật cận thị, đang trở thành một vấn đề sức khỏe cộng đồng bức thiết trên phạm vi toàn cầu cũng như tại Việt Nam. Theo ước tính của Tổ chức Y tế Thế giới, hiện có khoảng 2,3 tỷ người trên thế giới mắc các tật khúc xạ, trong đó 153 triệu người bị suy giảm thị lực hoặc mù lòa do không được điều chỉnh kính kịp thời. Tại Việt Nam, sự gia tăng nhanh chóng của tỷ lệ cận thị ở lứa tuổi học sinh trung học cơ sở đang đặt ra thách thức lớn đối với công tác chăm sóc sức khỏe học đường, đòi hỏi phải có những đánh giá dịch tễ học thực chứng và chuẩn xác.

Nghiên cứu được triển khai nhằm giải quyết lỗ hổng dữ liệu dịch tễ học về tật khúc xạ tại thành phố Bắc Ninh, nơi trước năm 2010 chưa có công trình nghiên cứu quy mô nào đánh giá toàn diện về thực trạng cận thị và cận thị giả. Mục tiêu trọng tâm của đề tài là xác định chính xác tỷ lệ hiện mắc cận thị, tỷ lệ cận thị giả, đồng thời phân tích các yếu tố môi trường, thói quen sinh hoạt và điều kiện vệ sinh trường học liên quan đến tật cận thị ở học sinh trung học cơ sở.

Khảo sát được thực hiện trên 757 học sinh từ lớp 6 đến lớp 8 tại 4 trường trung học cơ sở đại diện cho khu vực nội thành và ngoại thành thành phố Bắc Ninh trong giai đoạn từ tháng 3 năm 2010 đến tháng 9 năm 2010. Kết quả nghiên cứu cung cấp hệ thống bằng chứng thực nghiệm quan trọng với tỷ lệ cận thị chung là 20,3% và tỷ lệ cận thị giả là 2,9%, tạo nền tảng khoa học cho việc hoạch định chính sách y tế trường học và can thiệp dự phòng khúc xạ học đường.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu vận dụng hệ thống lý thuyết quang học mắt của Allvar Gullstrand và Frans Cornelis Donders nhằm mô tả cơ chế khúc xạ và hoạt động điều tiết của nhãn cầu. Hệ quang học của mắt có công suất hội tụ trung bình từ 58,64 Diop đến 70,57 Diop, phụ thuộc vào bán kính cong của giác mạc và độ co giãn của thể thủy tinh. Khi trục trước sau của nhãn cầu dài hơn mức sinh lý bình thường từ 23,5 mm đến 24,5 mm, hoặc công suất hội tụ quá lớn, tiêu điểm của các tia sáng song song từ vô cực sẽ hội tụ ở phía trước võng mạc, dẫn đến tật cận thị thực thể.

Song song với cận thị thực thể, khung lý thuyết về co quắp cơ thể mi giải thích hiện tượng cận thị giả. Đây là tình trạng rối loạn chức năng điều tiết tạm thời do mắt phải làm việc nhìn gần liên tục ở cự ly dưới 30 cm, khiến cơ thể mi không thể giãn hoàn toàn. Để phân định ranh giới giữa hai tình trạng này, mô hình dịch tễ học tương tác đa yếu tố được áp dụng, kết hợp giữa yếu tố sinh học di truyền và các yếu tố môi trường học đường như cường độ chiếu sáng, kích thước bàn ghế và thời gian học tập quá tải.

Phương pháp nghiên cứu

Đề tài sử dụng thiết kế nghiên cứu mô tả cắt ngang có phân tích, tiến hành trên cỡ mẫu gồm 757 học sinh thuộc 24 lớp học tại 4 trường trung học cơ sở gồm trường Thị Cầu, Đáp Cầu ở khu vực nội thành và trường Kim Chân, Hòa Long ở khu vực ngoại thành. Phương pháp chọn mẫu cụm nhiều giai đoạn được áp dụng với hệ số hiệu lực thiết kế bằng 2 nhằm đảm bảo tính đại diện cao cho quần thể học sinh trung học cơ sở tại địa bàn nghiên cứu.

Quy trình khám phát hiện cận thị tuân thủ nghiêm ngặt tiêu chuẩn chuyên khoa mắt gồm hai giai đoạn độc lập. Bước đầu tiên, học sinh được thử thị lực nhìn xa bằng bảng vòng tròn hở Landolt ở khoảng cách 5 m dưới cường độ chiếu sáng chuẩn từ 100 lux đến 400 lux, kết hợp thử kính lỗ cho các trường hợp thị lực dưới 8/10 và đo khúc xạ chủ quan. Bước thứ hai, những học sinh nghi ngờ cận thị được tra thuốc làm liệt điều tiết Cyclogyl 1% để tiến hành đo khúc xạ tự động và soi bóng đồng tử ở khoảng cách 50 cm bằng máy soi chuyên dụng, từ đó xác định chính xác độ cận thật và tách biệt hoàn toàn cận thị giả.

Bên cạnh khám lâm sàng, điều kiện vệ sinh lớp học được đo đạc trực tiếp bằng máy đo Luxmeter tại 6 vị trí chuẩn và thước đo chuyên dụng để đánh giá độ cao bàn ghế theo tiêu chuẩn vệ sinh trường học của Bộ Y tế. Dữ liệu được làm sạch và nhập liệu bằng phần mềm EpiData 3.0, phân tích trên phần mềm SPSS 16 thông qua kiểm định Chi-square và mô hình hồi quy Logistic đa biến nhằm kiểm soát các biến số gây nhiễu.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Khảo sát dịch tễ trên 757 học sinh ghi nhận tỷ lệ mắc cận thị chung là 20,3% với 154 trường hợp. Đáng chú ý, tỷ lệ cận thị giả chiếm 2,9% trên toàn bộ học sinh được khám và chiếm tới 12,5% trong tổng số các ca được chẩn đoán cận thị bằng phương pháp thử kính chủ quan ban đầu. Về mức độ tật khúc xạ, cận thị nhẹ dưới 3 Diop chiếm ưu thế tuyệt đối với 68,2%, cận thị vừa từ 3 Diop đến 6 Diop chiếm 31,8% và không ghi nhận trường hợp cận thị nặng trên 6 Diop.

Tỷ lệ cận thị phân bổ không đồng đều giữa các nhóm nhân khẩu học và vị trí địa lý. Tỷ lệ mắc cận thị ở học sinh nữ đạt 24,6%, cao hơn đáng kể so với tỷ lệ 16,0% ở học sinh nam. Xét theo khu vực sinh sống, học sinh tại các trường nội thành có tỷ lệ mắc cận thị lên tới 30,2%, cao gấp hơn 3 lần so với tỷ lệ 10,0% ở học sinh khu vực ngoại thành. Cụ thể tại từng trường, trường Thị Cầu có tỷ lệ cao nhất là 36,7%, tiếp đến là trường Đáp Cầu 23,4%, trong khi trường Hòa Long chỉ ghi nhận 10,9% và trường Kim Chân là 9,1%. Tỷ lệ học sinh cận thị đã được chỉnh kính chỉ đạt 14,9%, đồng nghĩa với việc có tới 85,1% học sinh bị cận thị chưa từng được đeo kính điều chỉnh.

Thảo luận kết quả

Khi đưa các biến số vào mô hình hồi quy Logistic đa biến, nghiên cứu xác định nhiều yếu tố nguy cơ có mối liên quan độc lập và có ý nghĩa thống kê cao đối với tật cận thị. Học sinh sinh sống tại khu vực nội thành có nguy cơ mắc cận thị cao gấp 3,9 lần so với học sinh ngoại thành với p < 0,001. Học sinh nữ có nguy cơ mắc cận thị cao gấp 1,7 lần học sinh nam với p < 0,01. Về hành vi học tập, nhóm học sinh có thời gian tự học tại nhà trên 3 giờ mỗi ngày có nguy cơ mắc cận thị cao gấp 2,5 lần so với nhóm học dưới 3 giờ mỗi ngày. Thói quen ngồi học sai tư thế làm gia tăng nguy cơ cận thị lên gấp 2,6 lần, và việc thiếu góc học tập cố định tại gia đình làm tăng nguy cơ lên 2,2 lần.

Dữ liệu khảo sát vệ sinh học đường cho thấy 100% số lớp học được khảo sát có kích thước bàn ghế không đồng bộ theo tiêu chuẩn lứa tuổi, dẫn đến việc chỉ có 21,3% học sinh có tầm vóc phù hợp với hiệu số bàn ghế thực tế. Về điều kiện chiếu sáng, dù 100% phòng học đạt hệ số chiếu sáng tự nhiên trên 0,2 với giá trị trung bình 0,23, nhưng chỉ có 48,5% số lớp học đạt chuẩn về cường độ chiếu sáng nhân tạo trên 100 lux.

Các phát hiện này có thể được trực quan hóa hiệu quả thông qua biểu đồ cột ghép thể hiện sự chênh lệch tỷ lệ cận thị theo khu vực địa lý và biểu đồ rừng biểu diễn tỷ suất chênh của các yếu tố nguy cơ từ mô hình hồi quy. Kết quả phản ánh tính tương đồng với các nghiên cứu tại các đô thị lớn ở Việt Nam, khẳng định áp lực thị giác nhìn gần trong môi trường học tập đô thị hóa là tác nhân chủ đạo thúc đẩy tật cận thị tiến triển.

Đề xuất và khuyến nghị

Thứ nhất, ngành Y tế dự phòng địa phương phối hợp với các cơ sở y tế chuyên khoa mắt triển khai định kỳ 2 lần mỗi năm học chương trình khám sàng lọc tật khúc xạ cho 100% học sinh trung học cơ sở. Quy trình khám phải áp dụng kỹ thuật nhỏ thuốc liệt điều tiết Cyclogyl 1% và soi bóng đồng tử nhằm phát hiện sớm, chỉnh kính đúng độ và loại bỏ triệt để tình trạng chẩn đoán nhầm cận thị giả gây lãng phí kinh tế và tổn hại thị lực.

Thứ hai, Ban Giám hiệu các trường học và Phòng Giáo dục và Đào tạo tiến hành rà soát, thay thế toàn bộ hệ thống bàn ghế đơn kích thước hiện tại bằng các mẫu bàn ghế có khả năng điều chỉnh độ cao theo 6 cỡ chuẩn quy định của Bộ Y tế trong lộ trình 12 tháng. Đồng thời, các trường cần nâng cấp hệ thống chiếu sáng nhân tạo bằng cách bổ sung đủ số lượng đèn huỳnh quang treo đúng tầm cao 2,8 m, đảm bảo 100% phòng học đạt cường độ chiếu sáng đồng đều trên 100 lux.

Thứ ba, gia đình và phụ huynh học sinh cần chủ động xây dựng góc học tập đạt chuẩn tại nhà với đèn học để bàn chống cận có độ rọi phù hợp, hướng ánh sáng từ phía đối diện tay thuận. Phụ huynh cần thiết lập thời gian biểu khoa học, kiểm soát tổng thời gian tự học và làm bài tập tại nhà dưới 3 giờ mỗi ngày, đồng thời giới hạn thời gian xem truyền hình và sử dụng thiết bị điện tử dưới 2 giờ mỗi ngày.

Thứ tư, đội ngũ giáo viên chủ nhiệm và cán bộ y tế học đường tăng cường truyền thông giáo dục sức khỏe, hướng dẫn học sinh duy trì tư thế ngồi thẳng lưng, giữ khoảng cách từ mắt đến trang sách từ 30 cm đến 40 cm. Nhà trường cần áp dụng quy tắc nghỉ ngơi thị giác, yêu cầu học sinh thư giãn mắt từ 5 đến 10 phút sau mỗi 45 phút học tập liên tục để giảm thiểu tình trạng co quắp điều tiết.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Nhóm cán bộ quản lý y tế công cộng và chuyên viên y tế học đường có thể sử dụng số liệu dịch tễ học và mô hình phân tích nguy cơ trong luận văn để xây dựng các hướng dẫn can thiệp phòng chống tật khúc xạ cấp tỉnh và hoàn thiện mạng lưới khúc xạ học đường.

Ban Giám hiệu, cán bộ phụ trách cơ sở vật chất và giáo viên các trường phổ thông có thể tham khảo các tiêu chuẩn đo đạc thực tế về hệ số ánh sáng và kích thước bàn ghế để tiến hành cải tạo phòng học, sắp xếp vị trí chỗ ngồi phù hợp với chiều cao thực tế của từng học sinh.

Các bậc phụ huynh học sinh có con em trong độ tuổi trung học cơ sở có thể tìm hiểu những chỉ số thực chứng về tác hại của việc tự học kéo dài và ngồi sai tư thế, từ đó điều chỉnh chế độ sinh hoạt, bố trí ánh sáng tại gia đình và nhận biết sớm các biểu hiện mỏi mắt, nhìn mờ của con trẻ.

Các bác sĩ nhãn khoa, kỹ thuật viên khúc xạ và học viên chuyên ngành y học dự phòng có thể ứng dụng quy trình chẩn đoán phân biệt cận thị thật và cận thị giả qua phương pháp liệt điều tiết để nâng cao độ chính xác trong thực hành khám khúc xạ lâm sàng cộng đồng.

Câu hỏi thường gặp

Cận thị giả là gì và tại sao cần phải phân biệt với cận thị thật?
Cận thị giả là tình trạng co quắp cơ thể mi tạm thời khiến mắt giảm thị lực nhìn xa tương tự cận thị thật nhưng trục nhãn cầu chưa bị dài ra. Trong nghiên cứu, có 12,5% ca nghi ngờ cận thị thực chất là cận thị giả. Việc phân biệt bằng thuốc liệt điều tiết giúp tránh việc cắt kính cận sai lầm, bảo vệ mắt học sinh khỏi tình trạng lệ thuộc kính không đáng có.

Tại sao tỷ lệ cận thị ở học sinh nội thành lại cao gấp 3 lần khu vực ngoại thành?
Kết quả nghiên cứu ghi nhận tỷ lệ cận thị nội thành là 30,2% trong khi ngoại thành là 10,0% với tỷ suất chênh OR = 3,9. Nguyên nhân chủ yếu xuất phát từ áp lực học tập cao hơn, thời gian tự học và học thêm tại các trường nội thành như Thị Cầu chiếm tỷ lệ lớn, kết hợp với không gian sinh hoạt chật hẹp và tần suất tiếp xúc ánh sáng tự nhiên ngoài trời thấp hơn.

Thời gian tự học tại nhà ảnh hưởng như thế nào đến sự phát triển của tật cận thị?
Nghiên cứu chỉ ra rằng học sinh dành thời gian tự học trên 3 giờ mỗi ngày có nguy cơ mắc cận thị cao gấp 2,5 lần so với nhóm học dưới 3 giờ. Việc mắt phải liên tục điều tiết ở cự ly gần dưới 30 cm trong thời gian dài khiến cơ thể mi bị mỏi, gia tăng áp lực lên nhãn cầu và đẩy nhanh quá trình kéo dài trục trước sau của mắt.

Kích thước bàn ghế học sinh tại các trường hiện nay đáp ứng tiêu chuẩn vệ sinh như thế nào?
Khảo sát tại 24 lớp học cho thấy 100% bàn ghế chưa đồng bộ theo quy định vệ sinh học đường, khiến chỉ có 21,3% học sinh có tầm vóc tương thích với hiệu số bàn ghế. Đa số các trường dùng bàn quá cao trong khi ghế quá thấp, buộc học sinh phải cúi gập người hoặc ngồi lệch cột sống, làm tăng nguy cơ mắc cận thị lên gấp 2,6 lần.

Thực trạng học sinh bị cận thị nhưng chưa được đeo kính điều chỉnh nghiêm trọng ra sao?
Trong số 154 học sinh được xác định mắc cận thị, có tới 85,1% học sinh chưa từng được chỉnh kính. Tình trạng nhìn mờ kéo dài không chỉ làm suy giảm kết quả học tập mà còn gây ra các triệu chứng nhức đầu ở 18,4% học sinh và mỏi mắt ở 30,9% học sinh, đồng thời làm tăng nguy cơ nhược thị hoặc biến chứng đáy mắt về lâu dài.

Kết luận

  • Công trình xác lập tỷ lệ hiện mắc cận thị là 20,3% và tỷ lệ cận thị giả là 2,9% trên mẫu khảo sát chuẩn gồm 757 học sinh trung học cơ sở tại thành phố Bắc Ninh.
  • Nghiên cứu chỉ ra thực trạng đáng báo động khi có tới 85,1% học sinh cận thị chưa được chỉnh kính và 100% phòng học sử dụng bàn ghế chưa đạt chuẩn kích thước đồng bộ theo quy định của Bộ Y tế.
  • Mô hình hồi quy khẳng định 5 yếu tố nguy cơ độc lập hàng đầu gồm: khu vực sinh sống nội thành (OR = 3,9), tư thế ngồi học sai (OR = 2,6), thời gian tự học trên 3 giờ mỗi ngày (OR = 2,5), thiếu góc học tập riêng (OR = 2,2) và giới tính nữ (OR = 1,7).
  • Đóng góp khoa học cốt lõi của luận văn là hoàn thiện quy trình chẩn đoán phân biệt cận thị giả bằng kỹ thuật soi bóng đồng tử sau liệt điều tiết, cung cấp hệ số thực chứng phục vụ can thiệp y tế trường học.
  • Ngành Y tế và Giáo dục địa phương cần phối hợp hành động ngay trong năm học mới để chuẩn hóa chiếu sáng lớp học, thay thế bàn ghế chuẩn kích thước và tổ chức khám sàng lọc khúc xạ định kỳ nhằm bảo vệ toàn diện thị lực học đường.