Chương 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU.4 Chương 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN cứu. Đối tượng nghiên cứu:. Thời gian và địa điểm nghiên cứu. Thiết kế nghiên cứu.
Phương pháp chọn mẫu. Phương pháp thu thập thông tin. Biến số ngiên cứu. Công cụ, tiêu chuẩn quy định và cách đánh giá.
Xử lý, phân tích sổ liệu. Đạo đức trong nghiên cứu. Sai số và cách khống chế. Hạn chế của nghiên cứu.
25 Chương 3: KẾT QUẢ NGHIÊN cứu.26 Chương 4: BÀN LUẬN.49 Chương 5: KẾT LUẬN. 58 Chương 6: KHUYẾN NGHỊ. 60 TÀI LIỆU THAM KHẢO. 65 Phụ lục 1: Cây vấn đề.65 Phụ lục 2: Phiếu hỏi.66 Phụ lục 3: Phiếu khám .75 Phụ lục 4: Danh sách các cán bộ tham gia nghiên cứu.76 iii DANH MỤC CÁC BẢNG Trang Bảng 1 Phân bố học sinh theo khối học và giới tính 26 Bảng 2 Số lượng phụ huynh điều tra theo tuổi, giới, nghề nghiệp, TĐHV 26 Bảng 3 Tỷ lệ cận của học sinh theo trường 27 Bảng 4 Tỷ lệ cận của học sinh theo lớp học 28 Bảng 5 Tỷ lệ cận theo giới tính 28 Bảng 6 Kiến thức của học sinh và phụ huynh học sinh về khái niệm cận thị 29 Bảng 7 Kiến thức của học sinh và phụ huynh học sinh về tác hại 29 Bảng 8 Kiến thức của học sinh và phụ huynh học sinh về biểu hiện củacận thị 31 Bảng 9 Thực hành của học sinh về cận thị 33 Bảng 10 Thực hành của phụ huynh về cận thị 34 Bảng 11 Chỉ số vệ sinh học đường tại gia đình 36 Bảng 12 Tổng thời gian mắt sử dụng để giải trí trung bình/ngày (XemTV, Điện tử, sử dụng máy vi tính, Đọc truyện, sách báo, tạp chí) 37 Bảng 13 So sánh thời gian tự học ở nhà trung bình/ngày 38 Bảng 14 Thời gian học kéo dài của học sinh 38 Bảng 15 Thời gian xem tivi và sử dụng máy vi tính trung bình/ ngày của học sinh 39 Bảng 16 Thời gian tập luyện TDTT trung bình trong ngày 39 Bảng 17 Tư thế ngồi học thường xuyên của học sinh 40 Bảng 18 Dấu hiệu sức khoẻ của mắt ở học sinh sau khi học 40 Bảng 19 Liên quan giữa kiến thức, thực hành của học sinh với cận thị 41 Bảng 20 Liên quan giữa kiến thức, thực hành của phụ huynh với cận thị 42 Bảng 21 Liên quan giữa học thêm của học sinh với cận thị 42 Bảng 22 Liên quan giữa thời gian tự học ở nhà trong ngày với cận thị 43 Bảng 23 Liên quan giữa thời gian xem tivi, sử dụng máy tính và đọc truyện, sách báo trong ngày với cận thị 43 Bảng 24 Liên quan giữa tư thế ngồi học thường xuyên của học sinh với cận thị 44 Bảng 25 Liên quan giữa thời gian hoạt động TDTT trong ngày với cận thị 44 iv Bảng 26 Liên quan giữa dấu hiệu sức khoẻ của mắt ở học sinh sau khi học 45 Bảng 27 Liên quan giữa góc học tập ở nhà của học sinh với cận thị 45 Bảng 28 Liên quan giữa ánh sáng khi học ở nhà của học sinh với cận thị 46 Bảng 29 Liên quan giữa hiệu số sử dụng bàn ghế khi ngồi học ở nhà với cận thị 46 Bảng 30 Liên quan giữa giới tính của học sinh với cận thị 47 Bảng 31 Liên quan giữa độ tuổi của học sinh với cận thị 47 Bảng 32 Liên quan giữa gia đình có người bị cận với cận thị 48 Bảng 33 Liên quan giữa nghề nghiệp và Trình độ học vấn của phụ huynh học sinh với cận thị 48 DANH MỤC BIỂU ĐÒ Trang Biểu đồ 1 Kiến thức của học sinh và phụ huynh học sinh về nguyên nhân gây cận 30 Biếu đồ 2 Kiến thức đạt của học sinh và phụ huynh học sinh về cách phòng chổng 31 Biếu đồ 3 So sảnh kiến thức đạt về cận thị của học sinh, phụ huynh tại 2 triỉờng nghiên círu 32 Biếu đồ 4 So sánh thực hành đạt về cận thị của học sinh, phụ huynh tại 2 trường nghiên cứu 35 Biểu đồ 5 So sánh chế độ học thêm của học sinh ở 2 trường nghiên cứu 37 vi TÓM TẮT NGHIÊN cúư Ngày nay với sự phát triển nhanh chóng của nền kinh tế và văn hóa mở cửa thời hội nhập, học sinh có nhiều cơ hội tiếp cận với các phương tiện học tập hiện đạị, cơ sở vật chất tân tiến và phương tiện giải trí một cách dễ dàng.
Tuy nhiên với gánh nặng học tập, sức ép tâm lý và sự lạm dụng mắt một cách không hợp lý, quá mức đã gây ra những ảnh hưởng không tốt cho mắt của học sinh, đặc biệt là vấn đề cận thị. Các nhà nghiên cứu ở Việt Nam và trên thế giới đều thấy rằng cận thị học đường đang ngày càng tăng và trở thành vấn đề sức khỏe công cộng của nhiều quốc gia trên thế giới [5], [12], [41]. Báo cáo của TTYT huyện Hoài Đức từ năm 2009-2011 cho thấy tình trạng cận thị ở học sinh trên toàn huyện gia tăng và tỷ lệ cận gịữa các trường lại có sự chênh lệch rất lớn. Đen nay chưa có nghiên cứu nào trên địa bàn huyện tìm hiểu về sự khác biệt quá lớn này vì vậy chúng tôi tiến hành nghiên cứu: “Thực trạng và một sổ yếu tố liên quan với cận thị ở học sinh tại 2 trường THCS Nguyễn Văn Huyên và Vân Côn - Hoài Đức - Hà Nội năm 2012” nhằm tìm hiểu sự khác nhau về tỷ lệ cận và một số yếu tố liên quan đến cận thị ở 2 ngôi trường này [24], [25].
Đây là nghiên cửu cắt ngang phân tích và sử dụng phương pháp nghiên cứu định lượng trên 195 học sinh và 195 phụ huynh của những học sinh đã chọn. Nghiên cứu được tiến hành từ tháng 10/2011-03/2012 với thông tin thu thập bằng bộ câu hỏi tự điền (có hướng dẫn) cho HS, PH và số liệu thứ cấp từ bệnh án tại trường và báo cáo của TTYT Hoài Đức. số liệu được nhập và phân tích trên phần mềm Epidata 13. Kết quả thu được: 33,7% học sinh trường Nguyễn Văn Huyên và 12,6% học sinh trường Vân Côn bị cận.
Tỷ lệ cận chung là 22,6%. Cận tăng theo độ tuổi và học sinh nữ có nguy cơ mắc cận cao hơn học sinh nam. - Các yếu tổ như: Giới tính, độ tuổi, tiền sử gia đình, thời gian học và giải trí, tư thế ngồi học thường xuyên, chế độ học thêm, hiệu số sử dụng bàn ghế có liên quan đến cận thị ở học sinh. vii - Các yếu tố: Kiến thức, thực hành của học sinh và phụ huynh, thời gian dành cho TDTT, trình độ học vấn và nghề nghiệp của phụ huynh chưa tìm thấy mối liên quan có ý nghĩa thống kê trong nghiên cứu này.
Với những kết quả đạt được chúng tôi hi vọng mọi người sẽ có cách nhìn rộng hơn về cận thị và các ngành liên quan cần có những chủ trương, kế hoạch phù hợp để huy động sự tham gia tích cực của cộng đồng trong chương trình phòng chống cận thị ở học sinh. 1 ĐẶT VẤN ĐÈ Cận thị là một tật khúc xạ của mắt, trong đó tiêu điểm sau ở phía trước võng mạc nên mắt cận thị chỉ nhìn được các vật ở gần mà không nhìn rõ các vật ở xa. Cận thị ảnh hưởng trực tiếp và gián tiếp đến quá trình phát triển tâm thể mỹ, sinh hoạt và học tập hàng ngày của học sinh. Ở mức độ nặng hơn cận thị còn gây bong võng mạc và gây mù loà suốt đời [6],[27].
Cận thị thường xảy ra và tiến triển nhanh ở lứa tuổi học sinh đến trường nên người ta gọi là cận thị học đường. Cận thị học đường đã được các quốc gia quan tâm rất sớm trong vấn đề chăm sóc sức khoẻ học sinh đồng thời hệ thống y tế học đường, điều kiện vệ sinh trường học, điều kiện học tập,.đã được cải thiện. Tuy nhiên cận thị ở học sinh vẫn chiếm tỷ lệ cao và có xu hướng gia tăng ở tất cả các nước trên thế giới cũng như ở Việt Nam [7], [11], [15], [27]. Ước tính trên toàn thế giới có đến 2,3 tỷ người bị mắc các tật khúc xạ, tỷ lệ mắc phụ thuộc vào lứa tuổi, khu vực, giới tính và môi trường.
Theo nghiên cứu của Fredrich và cs tỷ lệ cận thị ở các nước châu Á là 70-90%, Châu Âu và Châu Mỹ chiếm 30-40% còn Châu Phi chiếm 10-20%. Một nghiên cứu ở Singapore cũng chỉ rõ có đến 60% trẻ em mắc cận thị ở lứa tuổi 12,8% mắc ở lứa tuổi 18,79% mắc ở người lớn và hơn 90% cận thị là ở sinh viên đại học [33], [40], [41]. Tại Việt Nam tỷ lệ cận thị học đường luôn ở mức cao và tăng ở cả 3 cấp học nhất là khu vực đô thị. Báo cáo của Trung tâm Mắt TP HCM năm 1994 cho biết: Tỷ lệ cận ở 3 cấp là: 1,57%, 4,75%, 10,34% và năm 2005 tỷ lệ này đã tăng lên thành: 4,3%, 28,7%, 35,4% trong đó khối THCS tăng gấp 7 lần.
Kết quả nghiên cứu của bệnh viện Mắt Hà Nội (năm 2004) cho thấy: Tỷ lệ cận chung của học sinh TH 1315%, học sinh THCS là 17-22% và (Năm 2011) cho biết: Trong số 500.000 học sinh bị mắc tật khúc xạ, có tới 75% là cận thị, Nguyên nhân dẫn đến là do môi trường học tập không đủ ánh sáng, bàn ghế không phù hợp, tư thế ngồi sai và xem truyền hình ở khoảng cách quá gần [1], [2], [5], [29]. Hoài Đức là một huyện mà phong trào chạy đua thành tích, trường điểm, lớp chuyên, lớp chọn vẫn còn diễn ra phổ biến ở nhiều trường, về chất lượng giáo dục, 2 cả nhà trường và học sinh có tăng lên tuy nhiên gánh nặng học tập và tâm lý chạy đua thành tích không chỉ của học sinh mà còn cả giáo viên và cha mẹ học sinh cũng ngày một tăng dẫn đến việc học của học sinh bị quá tải. Cộng thêm vệ sinh học đường chưa được chú trọng và môi trường học tập không phù hợp đã gây ra những ảnh hưởng lớn tới mắt của học sinh, đặc biệt là tình trạng cận thị ngày càng gia tăng mà chính bản thân các em, gia đình, nhà trường và xã hội không hề hay biết [24], [25]. Báo cáo của TTYT huyện trong 2 năm gần đây cho thấy tỷ lệ cận thị của học sinh tăng lên rất rõ.
Năm học 2009-2010 tỷ lệ cận ở khối THCS là 7,8% nhưng đến năm 2010-2011 đã tăng lên thành 13,2%. Đồng thời tỷ lệ cận giữa các trường chênh lệch ớn.