CHƯƠNG 1 ĐẶC ĐIỂM LAO ĐỘNG – TIỀN LƯƠNG VÀ QUẢN LÝ LAO ĐỘNG, TIỀN LƯƠNG CỦA CÔNG TY TNHH DU LỊCH VÀ THƯƠNG MẠI SÔNG HỒNG 1. Đặc điểm Lao động của công ty Là công ty du lịch và thương mại công ty có đặc thù kinh doanh riêng nên lao động của Công ty chủ yếu là nam giới ( khối vận hành). Việc phân công lao động trong Công ty được tiến hành rất cụ thể và khoa học, lao động trong Công ty được phân thành: - Lao động thuộc khối bộ phận vận hành(gián tiếp): nhân viên lái xe, nhân viên chăm sóc, nhân viên bán xăng dầu, bảo dưỡng xe chiếm tỷ trọng lớn trong số lao động của Công ty, …. - Lao động thuộc khối văn phòng ( trực tiếp): lao động làm công tác quản lý, giám sát và phục vụ kinh doanh như: lao động ở các phòng ban, văn phòng … Tình hình lao động trong Công ty được thể hiện trong bảng sau Biểu số 1.1: Bảng phân tích tình hình lao động tại Công ty TNHH du lịch và thương mại Sông Hồng Năm Năm So sánh Chỉ tiêu 2013 2014 Số tuyệt đối Số tương đối 20 23 Tổng số CBCNV 35 17,5% 0 5 12 13 Đại học 15 12,5 % 0 5 Cao đẳng 50 70 20 40% Trung cấp 10 2 -8 80% CN kỹ thuật 20 28 8 40% (Nguồn số liệu: phòng hành chính nhân sự) Nhận xét: SV : Trần Thị Ngọc lan 3 GVHD : PGS.TS Nguyễn Hữu Ánh Chuyên đề thực tập chuyên ngành ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN VIỆN KẾ TOÁN – KIỂM TOÁN Qua bảng tổng hợp trên cho ta thấy, số lượng lao của Công ty biến động.
Năm 2014 tăng 35 người so với năm 2013, tương ứng tăng 17,5%. Đội ngũ lao động của Công ty đại đa số là những người trẻ tuổi, nhiệt tình và năng động, góp phần nâng cao năng suất lao động và hiểu quả kinh doanh của Công ty. Ngoài ra, hàng năm ban lãnh đạo Công ty đều có các chính sách đào tạo, cử cán bộ đi học các lớp tập huấn nghiệp vụ, nâng cao trình độ cho cán bộ nhân viên trong Công ty. Do đó, trình độ cũng như năng lực làm việc của người lao động trong Công ty không ngừng được nâng lên thể hiện qua nhân viên trình độ đại học năm 2014 tăng 15 người tương ứng với tăng lên 12,5% so với năm 2013 sẵn sàng đảm nhiệm tốt mọi công việc được giao trong phạm vi lĩnh vực của mình, từ đó phục vụ ngày càng tốt hơn các dịch vụ cho khách hàng, nâng cao uy tín, lợi nhuận cho Công ty.
Điều này đã đóng góp một phần không nhỏ cho sự thành công và phát triển của Công ty.2 Cơ cấu lao động của công ty năm 2014 STT Phân loại Số lượng Tỷ trọng% I Tổng số lao động 235 100 1 Theo giới tính - Nữ 68 28,93 - Nam 167 71,06 2 Theo hình thức làm việc - Lao động gián tiếp 45 19,14 - Lao động trực tiếp 190 80,85 3 Theo trình độ - Đại học trở lên 135 57,44 Cao đẳng 70 29,78 Trung cấp 2 0,008 CN kỹ thuật 28 11,91 II Độ tuổi - Dưới 30 tuổi 125 53,19 - Từ 31 – 45 80 34,04 - Từ 46 – 55 20 8,5 (Nguồn số liệu: phòng hành chính nhân sự) SV : Trần Thị Ngọc lan 4 GVHD : PGS.TS Nguyễn Hữu Ánh Chuyên đề thực tập chuyên ngành ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN VIỆN KẾ TOÁN – KIỂM TOÁN Từ những số liệu trong bảng trên có thể thấy rằng công tác quản lý lao động trong Công ty rất chặt chẽ. Chất lượng lao động ngày càng cao tỷ lệ lao động có trình độ đại học và trên đại học là 57,44%. Đây chính là thế mạnh của công ty trong việc quản lý, đào tạo nguồn nhân lực. Bên cạnh đó, đội ngũ lao động gián tiếp chiếm tỷ lệ 19,14%.Việc quản lý lao động ở Công ty không chỉ thực hiện ở phòng tổ chức hành chính mà còn ở dưới các bộ phận.
Các bộ phận có nhiệm vụ nắm rõ quân số hàng ngày, tình hình nghỉ phép, nghỉ ốm. của từng người lao động. Cuối tháng các mối kinh doanh gửi báo cáo lên phòng tổ chức hành chính từ các báo cáo này cuối năm phòng tổ chức hành chính lập " Báo cáo lao động" trong năm của toàn công ty. Việc ghi chép vào “sổ danh sách lao động” phải đầy đủ kịp thời cho việc lập Chuyên đề về lao động và phân tích tình hình biến động về lao động trong Doanh Nghiệp hàng tháng, quý, năm theo yêu cầu của quản lý lao động của Doanh nghiệp và của cơ quan quản lý cấp trên.2 Các hình thức trả lương của Công ty Tiền lương là yếu tố cơ bản để quyêt định thu nhập tăng hay giảm của người lao động, quyết định mức sống vật chất của người lao động làm công ăn lương trong doanh nghiệp.
Vì vậy để có thể trả lương một cách công bằng chính xác, đảm bảo quyền lợi cho người lao động thì mới tạo ra sự kích thích, sự quan tâm đúng đắn của người lao động đến kết quả cuối cùng của doanh nghiệp. Có thể nói hạch toán chính xác đúng đắn tiền lương là một đòn bẩy kinh tế quan trọng để kích thích các nhân tố tích cực trong mỗi con người, phát huy tài năng, sáng kiến, tinh thần trách nhiệm và nhiệt tình của người lao động tạo thành động lực quan trọng của sự phát triển kinh tế.1 Chế độ tiền lương của công ty: Tiền lương là một đòn bẩy kinh tế quan trọng để các nhà quản lý có thể vận dụng nhằm nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh, tăng năng suất lao động, có tác dụng khuyến khích người lao động tích cực lao động, đưa lại hiệu quả kinh tế cao cho doanh nghiệp. SV : Trần Thị Ngọc lan 5 GVHD : PGS.TS Nguyễn Hữu Ánh Chuyên đề thực tập chuyên ngành ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN VIỆN KẾ TOÁN – KIỂM TOÁN Ngoài tiền lương, người lao động còn được hưởng các khoản phụ cấp, trợ cấp bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế…. Các khoản này cũng góp phần trợ giúp người lao động và tăng thu nhập cho họ trong trường hợp khó khăn tạm thời hoặc vĩnh viễn mất sức lao động.c Tiền lương là số tiền thù lao mà doanh nghiệp trả cho người lao động theo số lượng và chất lượng lao động mà họ bỏ ra để phục vụ cho doanh nghiệp, để tái sản xuất sức lao động, bù đắp hao phí lao động của họ trong quá trình sản xuất kinh doanh.a Các hình thức trả lương của Công ty: Tùy theo đặc điểm hoạt động sản xuất kinh doanh của từng doanh nghiệp mà việc tính và trả lương cho người lao động cũng được thực hiện theo nhiều cách khác nhau sao cho phù hợp với tính chất công việc và trình độ quản lý của doanh nghiệp.
Hiện nay việc thực hiện chi trả lương của các doanh nghiệp phải thực hiện theo luật lao động và theo Nghị định số 114/2002/NĐ-CP ngày 30/11/2004 của Chính phủ ban hành, các doanh nghiệp nước ta có thể áp dụng 3 hình thức trả lương sau: - Hình thức trả lương theo thời gian - Hình thức trả lương theo doanh thu - Hình thức trả lương khoán 1.2 Hình thức trả lương theo thời gian Hình thức này thường áp dụng cho lao động làm công tác quản lý, văn phòng như: hành chính nhân sự, thống kê, tài vụ, kế toán…. Theo hình thức này tiền lương trả cho người lao động được tính theo thời gian làm việc, theo cấp bậc và thang lương theo tiêu chuẩn do nhà nước quy định. Tùy vào thâm niên làm việc của công nhân viên và trình độ nghiệp vụ của mỗi người mà có một bậc lương nhất định. Tiền lương theo thời gian có thể tính theo: tháng, tuần, ngày, giờ.
Lương tháng được quy định sẵn đối với từng bậc lương trong các thang lương. Lương tháng thường được áp dụng để trả lương cho công nhân viên làm SV : Trần Thị Ngọc lan 6 GVHD : PGS.TS Nguyễn Hữu Ánh Chuyên đề thực tập chuyên ngành ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN VIỆN KẾ TOÁN – KIỂM TOÁN công tác quản lý kinh tế, quản lý hành chính và các nhân viên thuộc các ngành không có tính chất sản xuất. Lương ngày là lương trả cho người lao động theo mức lương ngày và số ngày làm việc thực tế trong tháng. Mức lương ngày đựơc tính bằng cách lấy mức lương tháng chia cho số ngày làm việc trong tháng theo chế độ.
Lương ngày thường được áp dụng để trả lương cho lao động trực tiếp hưởng lương theo thời gian, tính trả lương cho người lao động trong những ngày hội họp, học tập, làm nghĩa vụ khác và làm căn cứ để tính trợ cấp, Bảo hiểm xă hội. Được áp dụng cho lái xe chạy hãng, tùy vào hợp đồng thuê xe tháng lái xe sẽ được hưởng doanh thu toàn bộ. - Hình thức trả lương theo thời gian có thưởng: là sự kết hợp giữa chế độ trả lương theo thời gian giản đơn với tiền thưởng khi đạt được những chỉ tiêu về số lượng đã quy định. Tiền lương của công nhân được tính bằng cách lấy tiền lương theo thời gian giản đơn cộng thêm tiền thưởng.
Đang được áp dụng trong công ty 2 năm gần đây. ạ - Hình thức lương thời gian giản đơn: theo hình thức này mỗi lao động nhận được tiền lương tùy theo mức lương theo cấp bậc và thời gian tham gia lao động. Hình thức được áp dụng trong các năm trước đây tại công ty. Ưu điểm của hình thức trả lương theo thời gian giản đơn: đơn giản, dễ tính toán, phản ánh được trình độ kỹ thuật và điều kiện làm việc của người lao động.
Nhược điểm: Không gắn với kết quả kinh doanh nên không quán triệt được nguyên tắc phân phối theo lao động. Vì vậy, hình thức này không khuyến khích người lao động tăng năng suất lao động và hiệu quả công tác. ọ Ưu điểm của hình thức trả lương theo thời gian: Phản ánh được trình độ thành thạo và thời gian thực tế làm việc gắn chặt thành tích làm việc của từng cá nhân thông qua các kết quả đã đạt được. Vì vậy, nó khuyến khích người lao động quan tâm đến công việc và có trách nhiệm hơn.
Trả lương theo thời gian rất dễ tính toán và bảo đảm cho nhân viên một khoản tiền thu nhập nhất định trong thời gian làm việc. SV : Trần Thị Ngọc lan 7 GVHD : PGS.