Chương 1 Cải cách hành chính làm cho hệ thống hành chính nhà nước hoạt động tốt hơn, để thực hiện tốt hơn các chức năng, nhiệm vụ quản lý xã hội. Công cuộc đổi mới đất nước và sự phát triển nhanh chóng của cuộc cách mạng khoa học - công nghệ trên thế giới, nhất là công nghệ thông tin và cuộc cách mạng 4.0, đòi hỏi chúng ta phải đổi mới tổ chức bộ máy hệ thống chính trị nói chung và cải cách hành chính nhà nước nói riêng để thích ứng với điều kiện mới và tinh giản biên chế của hệ thống chính trị, góp phần thúc đẩy hội nhập. Tuỳ từng đối tượng mà tổ chức các hình thức tuyên truyền, phổ biến và quán triệt phù hợp như: mở các lớp tập huấn tập trung để quán triệt, nghiên cứu các nội dung chính sách, bàn các giải pháp và phân công thực hiện (hình thức này phù hợp với các đối tượng tham gia trực tiếp vào quá trình tổ chức thực hiện và kiểm tra thực hiện chính sách); tổ chức các lớp tuyên truyền chính sách cho các cơ quan thông tin đại chúng, cán bộ tuyên truyền; gửi các tài liệu hướng dẫn nghiên cứu chính sách cho các tổ chức, doanh nghiệp liên quan để tự nghiên cứu và xây dựng chương trình tham gia thực hiện chính sách. Cụ thể hoá chính sách: sau khi chính sách mới ban hành, cần phải cụ thể hoá bằng các chương trình hành động, chương trình mục tiêu, các kế hoạch thực hiện; ban hành các văn bản hướng dẫn thực hiện chính sách, các 20 biểu mẫu báo cáo (nếu có); xây dựng các đề án, dự án phát triển kinh tế - xã hội cụ thể (nếu có).
Các thủ tục này tạo ra môi trường thực thi chính sách, quy định những đòi hỏi và bước đi cần thiết trong việc thực hiện chính sách. Tuy nhiên, khi ban hành các thủ tục hành chính cần phải nghiên cứu kỹ để tránh sự rườm rà, phức tạp không cần thiết; đồng thời phải đảm bảo tính ổn định tương đối để không gây nhiều xáo trộn cho quá trình thực thi. Bên cạnh đó, những thủ tục đã lỗi thời, kìm hãm việc thực thi cần được thay thế bằng những thủ tục mới hợp lý và thuận tiện hơn. Chuẩn bị nguồn lực cho việc thực hiện chính sách: huy động các nguồn lực (bao gồm nguồn nhân lực, nguồn kinh phí.) từ trung ương, các địa phương, các tổ chức quốc tế (nếu có).
21 CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH CẢI CÁCH HÀNH CHÍNH Ở QUẬN NGŨ HÀNH SƠN, THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG THỜI GIAN QUA 2. Khái quát điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội quận Ngũ Hành Sơn, thành phố Đà Nẵng 2. Điều kiện tự nhiên, dân số Được đánh giá là có tiềm năng du lịch to lớn, quận Ngũ Hành Sơn thể hiện qua những điều kiện hết sức thuận lợi do hệ thống sản phẩm du lịch phong phú các di tích lịch sử, hệ thống chùa chiềng và là điểm giữa của ba di sản văn hoá thế giới : Huế- Mỹ Sơn- Hội An. Làng nghề đá mỹ nghệ Non Nước cũng đang được đề nghị công nhận là di sản văn hoá phi vật thể của quốc gia.
Về dân số có: 43 084 người với mật độ dân số: 1.171 người/km2. Hiện nay, dân số tăng lên 61.470 hộ, trong đó số luợng người trong độ tuổi lao động là 40.765 người, chiếm 66,35% so với tổng dân số của quận. Điều kiện kinh tế - xã hội 2.Về kinh tế Hằng năm, quận ủy ban hành Nghị quyết tập trung lãnh đạo bằng các chuyên đề, đề án và khuyến khích, hỗ trợ các doanh nghiệp và hộ dân kinh doanh vượt qua khó khăn, thách thức, tổ chức sản xuất, kinh doanh. Các ngành kinh tế của quận dịch chuyển theo đúng định hướng, giảm tỷ trọng ngành nông nghiệp, công nghiệp và tăng tỷ trọng ngành dịch vụ.
Tổng giá trị sản xuất các ngành thuộc quận quản lý tăng đều qua các năm. Tốc độ tăng trưởng bình quân là 13,70%. Ngoài ra, với việc tập trung khai thác các lợi thế phát triển của quận đã thu hút nhiều nhà đầu tư lớn trong và ngoài nước đến tổ 22 chức sản xuất, kinh doanh tạo ra giá trị sản xuất lớn. Giá trị sản xuất thuộc quận quản lý chiếm tỷ trọng 6,71% so với giá trị sản xuất của thành phố.
Ngành dịch vụ du lịch – thương mại từng bước được khẳng định là ngành kinh tế mũi nhọn. Trong những năm qua, thành phố và quận đã có nhiều chính sách ưu đãi, tạo điều kiện thuận lợi cho ngành dịch vụ du lịch – thương mại phát triển. Tốc độ tăng trưởng của ngành bình quân hàng năm là 23,34%. Giá trị sản xuất ngành du lịch dịch vụ - thương mại trên địa bàn quận đạt xấp xỉ 15.000 tỷ đồng, chiếm 7,97% so với giá trị sản xuất của thành phố.
Ngành công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp và xây dựng cơ bản được quan tâm đầu tư. Giá trị sản xuất tăng đều qua các năm. Tốc độ tăng bình quân đạt 5,52%. Ngành nông nghiệp - thủy sản giảm dần tỷ trọng trong cơ cấu kinh tế, giá trị sản xuất giảm 7,06%.
Mặc dù diện tích đất nông nghiệp bị thu hẹp do quá trình đô thị hóa nhưng Quận ủy đã chỉ đạo thực hiện tốt việc chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi, tổ chức nhiều chương trình tập huấn, chuyển đổi ngành nghề cho nông dân,. để giải quyết việc làm, tạo thu nhập cho lao động địa phương.Giá trị sản xuất thủy sản biến động qua các năm, tốc độ tăng trưởng bình quân tăng 11,49%. Công tác quản lý, điều hành thu, chi ngân sách gặp nhiều khó khăn. Quận ủy đã chỉ đạo UBND từ quận đến phường tập trung quản lý, điều hành nghiêm túc, chặt chẽ kế hoạch thu, chi ngân sách đảm bảo hoạt động của quận.
Công tác quản lý tài nguyên - môi trường được thực hiện đúng các trình tự, thủ tục theo quy định của pháp luật về quản lý đất đai, đảm bảo lợi ích hợp pháp của các tổ chức và người dân trong quản lý, sử dụng đất. Không để xảy ra tình trạng cơi nới, lấn chiếm đất công, tạo được sự đồng tình, ủng hộ trong nhân dân. Công tác đảm bảo vệ sinh, môi trường trên địa bàn quận 23 luôn được chú trọng, triển khai thực hiện Đề án “Xây dựng Ngũ Hành Sơn - quận môi trường” giai đoạn 2014-2020.Về văn hóa - xã hội - Về giáo dục-đào tạo: Đã được UBND quận quan tâm đầu tư qua đó, kết quả, 100% học sinh bậc học mầm non và tiểu học hoàn thành chương trình cuối cấp; 99,55% học sinh được công nhận tốt nghiệp THCS, 88,24% học sinh thi đỗ vào lớp 10 các trường công lập; tỷ lệ học sinh đạt giải trong các kỳ thi học sinh giỏi, năng khiếu do quận và thành phố tổ chức tăng cao so với năm học trước. - Về y tế: Hoạt động y tế đảm bảo tốt mục tiêu bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe cho người dân.
Được thành phố quan tâm đầu tư xây dựng Bệnh viện Phụ sản – Nhi Đà Nẵng hiện đại trên địa bàn quận và khoa Lão đầu tiên của ngành y tế Đà Nẵng tại trung tâm Y tế quận Ngũ Hành Sơn đã góp phần nâng cao chất lượng chăm sóc sức khỏe nhân dân. 04 phường của quận đã đạt Bộ tiêu chí mới về y tế cơ sở. Tỷ lệ trẻ em suy dinh dưỡng hàng năm giảm 0,3%. Công tác vệ sinh phòng dịch được chú trọng thực hiện, đã xử lý kịp thời các dịch bệnh xảy ra, không để lây lan trên diện rộng.
Quản lý tốt công tác vệ sinh an toàn thực phẩm. - Công tác đền ơn đáp nghĩa chăm lo các đối tượng chính sách và người có công với cách mạng được thực hiện thường xuyên. Các nghĩa trang liệt sĩ, nhà truyền thống, khu tưởng niệm… được đầu tư sửa chữa, nâng cấp. Đa số các hộ gia đình chính sách có nhà ở ổn định và có mức sống khá so với mặt bằng chung của địa phương.
-Công tác giải quyết việc làm, giảm nghèo cho nhân dân là nhiệm vụ cấp thiết. Ngay từ đầu nhiệm kỳ, Quận ủy đã chỉ đạo xây dựng và triển khai Đề án “Hỗ trợ chuyển đổi ngành nghề và giải quyết việc làm cho nông dân thuộc diện di dời giải tỏa, thu hồi đất sản xuất trên địa bàn quận giai đoạn 24 2011-2020”. Bằng nhiều biện pháp thiết thực, công tác giải quyết việc làm đã đạt nhiều kết quả quan trọng góp phần bảo đảm an sinh xã hội. Công tác giảm nghèo được chú trọng thực hiện với quyết tâm cao.
Trong nhiệm kỳ đã huy động xã hội hóa và hỗ trợ gần 100 tỷ đồng cho các chương trình an sinh xã hội, số lượng hộ nghèo giảm nhanh, phấn đấu đến cuối năm 2015 sẽ giảm hết số hộ nghèo theo tiêu chí mới của thành phố. - Hoạt động văn hóa, văn nghệ, thể dục, thể thao được tổ chức sôi nổi, đáp ứng được nhu cầu tinh thần của nhân dân. Công tác quản lý nhà nước trên lĩnh vực văn hóa - thông tin được tăng cường và ngày càng đi vào nề nếp. Chất lượng công tác tuyên truyền, cổ động trực quan được nâng cao.
Triển khai thực hiện có hiệu quả Đề án “Bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa trên địa bàn quận”, công tác bảo tồn và phát huy giá trị các di tích lịch sử - văn hóa, nhất là các di tích được xếp hạng cấp quốc gia, cấp thành phố được quan tâm đầu tư. Lễ hội Quán Thế Âm được tổ chức hàng năm với quy mô và nội dung ngày càng phong phú. Đã tiến hành rà soát, đánh giá và đề xuất phương án đầu tư xây dựng, nâng cao hiệu quả hoạt động của các thiết chế văn hóa từ quận đến phường. Phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa” và Đề án “Xây dựng nếp sống văn hóa, văn minh đô thị” ngày càng đi vào chiều sâu và phát huy hiệu quả.
Hoạt động truyền thanh được phát huy. Qua đó, đã góp phần tuyên truyền, phổ biến có hiệu quả các chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước đến với nhân dân. Thực trạng thực hiện chính sách cải cách hành chính ở quận Ngũ Hành Sơn, thành phố Đà Nẵng giai đoạn 2012-2017 2. Bối cảnh 5 năm qua, bên cạnh những thuận lợi là cơ bản, song quận cũng gặp nhiều khó khăn thách thức do nhiều nguyên nhân khách quan và chủ quan, các ngành kinh tế quận phát triển thiếu ổn định và bền vững.
Tốc độ tăng 25 trưởng của ngành dịch vụ du lịch - thương mại vẫn chưa tương xứng với tiềm năng, lợi thế của quận. Quy mô sản xuất, kinh doanh còn nhỏ lẻ.