CHƯƠNG 1: TONG QUAN TÀI LIEU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN VE HOẠT ĐỘNG XUAT KHẨU CHE VIỆT NAM 1. Tổng quan tài liệu Những năm vừa qua, những vấn đề liên quan đến hoạt động xuất khâu chè đang được các doanh nghiệp dành sự quan tâm đặc biệt. Điều này được thể hiện qua một sé tai liệu nghiên cứu trong và ngoai nước. Tổng quan tài liệu về các yếu tố tác động đến xuất khẩu nông sản Lê Quỳnh Hoa và Phan Tan Lực (2021) [4], nghiên cứu “Xuất khẩu nông sản Việt Nam: Ảnh hưởng từ các Hiệp định thương mại tự do”.
Thông qua mô hình trọng lực và phương pháp ước lượng PPML, bài viết cho thấy các yếu tố tac động gồm GDP của đối tác, dân số của đối tác và lao động của ngành nông nghiệp Việt Nam có tác động cùng chiều đến xuất khẩu mặt hàng nông nghiệp. Ngoài ra, khoảng cách địa lý có tác động ngược chiều tới hoạt động xuất khẩu nông sản. Đỗ Thị Hòa Nhã (2019) [10], với bài nghiên cứu “Các yếu tố tác động đến xuất khẩu hàng nông sản Việt Nam vào thị trường EU - Cách tiếp cận từ mô hình trọng luc”. Dựa theo phân tích định lượng sử dung kỹ thuật hiệu ứng ngẫu nhiên (REM) và mô hình trọng lực mở rộng, bài nghiên cứu đánh giá tác động của các yếu tố đến xuất khẩu nông sản và một số mặt hàng điển hình (cà phê, hồ tiêu, trái cây).
Từ kết quả nghiên cứu, thấy được các yếu tố như GDP bình quân đầu người, dân số, chất lượng thể chế và việc gia nhập WTO có tác động cùng chiều tới khả năng xuất khẩu; còn khoảng cách địa lý và khoảng cách công nghệ có tác động ngược chiều. Từ đó, đề tài đã đưa ra được một số giải pháp và kiến nghị bao gồm phát huy các yếu tổ tích cực và hạn chế các yếu tố tiêu cực dé đây mạnh xuất khâu nông sản Việt Nam vao thị trường EU. Vũ Bách Diệp, Nguyễn Thị Phương Thảo và Ngô Hoài Thu (2018) [9] đã nghiên cứu “Phân tích các yếu to tác động đến xuất khẩu hàng hóa của Việt Nam sang thị trường EU bằng mô hình trọng lực”. Áp dụng mô hình trọng lực mở rộng, đề tài nghiên cứu cho thấy rằng GDP, dân số, chất lượng thể chế, việc gia nhập WTO và khoảng cách địa lý, khoảng cách công nghệ đều có tác động đến kim ngạch xuất khẩu.
Trong khi đó, yếu tố lich sử có tác động âm nhưng không mang ý nghĩa thống kê. Kết quả này sẽ giúp cho chính phủ và các cơ quan nhà nước, các doanh nghiệp một sô các 5 gợi ý giải pháp dé đây mạnh hoạt động xuất khâu sang thị trường EU day tiềm năng và khó tính. Nguyễn Ngọc Quỳnh, Phạm Hoang Linh và Bùi Thị Thanh Hải (2018) [20], nghiên cứu “Các nhân to ảnh hưởng đến xuất khẩu hàng nông sản của Việt Nam sang thị trường Liên minh châu Au (EU)”. Mục tiêu của bài nghiên cứu là đánh giá các nhân tố ảnh hưởng tới xuất khẩu nông sản Việt Nam sang EU.
Bằng cách thực hiện phương pháp ước lượng bình phương tối thiểu tông quát khả thi (FGLS), các nhân tố như GDP, GDP bình quân đầu người và mức độ tự do thương mại của quốc gia nhập khẩu hàng hóa có ảnh hưởng tích cực đến xuất khẩu nông sản Việt Nam. Mặt khác, khoảng cách địa lý và tình trạng tiếp giáp biển có ảnh hưởng tiêu cực đến hoạt động xuất khâu sang thị trường EU. Nguyễn Quyết (2021) [7] có bài nghiên cứu “Tac động của đại dich Covid-19 đến kim ngạch xuất khẩu gạo Việt Nam”. Bài nghiên cứu đã phân tích tác động của Covid-19 đến xuất khẩu gạo bằng mô hình trọng lực cho thấy rằng biến Covid-19 tại các nước nhập khâu và biến khoảng cách từ Việt Nam đến nước nhập khẩu có ý nghĩa thong kê.
Có nghĩa là dich Covid-19 tại các nước nhập khẩu có ảnh hưởng tích cực đến hoạt động xuất khâu gạo của Việt Nam do nhu cầu tiêu thụ và dự trữ lương thực của người tiêu dùng ở các nước nhập khẩu tăng cao. Ngoài ra, khoảng cách từ Việt Nam đến các thị trường nhập khẩu gạo càng xa thì sẽ ảnh hưởng tiêu cực đến kim ngạch xuất khẩu gạo (mức ảnh hưởng không đáng kê). Trần Thị Bạch Yến, Trương Thị Thanh Thảo (2017) [26], với bài nghiên cứu “Các nhân tố ảnh hưởng đến xuất khẩu gạo Việt Nam sang thị trường ASEAN: Kết quả phân tích bằng mô hình trọng lực”, ứng dụng mô hình trọng lực kết hợp với mô hình REM, FEM va OLS đã đưa ra kết luận nghiên cứu về các nhân tố ảnh hưởng đến xuất khẩu gạo. Cụ thé là yếu t6 GDP của nước xuất khẩu (Việt Nam), khoảng cách địa lý, chỉ số lạm phát và điện tích đất nông nghiệp Việt Nam có ảnh hưởng tích cực; khoảng cách kinh tế có tác động ngược chiều tới kim ngạch xuất khâu.
Qua đó, nhóm tác giả đề xuất một số định hướng cho xuất khẩu gạo của Việt Nam sang thị trường ASEAN. Tổng quan tài liệu về các yếu tố tác động đến xuất khẩu chè a. Tổng quan trong nước 6 Ngô Thị Mỹ (2021) [1], đã thực hiện nghiên cứu “Biến động của các yếu tổ tác động đến xuất khẩu chè Việt Nam: Sử dụng mô hình thị phan không đổi (CMS)”. Bài nghiên cứu đã sử dụng phương pháp phân tích thi phần không đổi (CMS) dé làm rõ thực trạng xuất khâu chè Việt Nam trong giai đoạn 2000-2019.
Kết quả nghiên cứu cho thấy hoạt động xuất khâu chè của Việt Nam đã có những thành tựu đáng mong đợi như kim ngạch xuất khâu không ngừng tăng lên. Xu hướng biến động của các yếu tố (tác động cầu, tác động cấu trúc và tác động cạnh tranh) tại mỗi thị trường nhập khẩu là không giống nhau. Nhu cầu tiêu dùng chè tại các thị trường đều có xu hướng tăng nhưng do thị hiếu của người tiêu dùng cũng tăng lên, đồng thời hàng loạt các hàng rào ph thuế quan được xây dựng dẫn đến việc cạnh tranh của chè Việt Nam trước các đối thủ lớn đang gặp rất nhiều khó khăn. Tổng quan quốc tế Trong nghiên cứu của Martin Ndemo Sato (2020), báo cáo “Determinants of Kenyan Tea Exports: The Gravity Model Approach” [71] đã chỉ ra răng xuất khẩu chè là một trong những động lực chính thúc đây tăng trưởng kinh tế ở Kenya.
Mục dich nghiên cứu của dé tài là phân tích các yếu tố quyết định đến dòng chảy xuất khâu chè giữa Kenya và các nước đối tác. Thông qua sử dụng mô hình trọng lực và các phương pháp ước lượng mô hình dir liệu bang (Pooled OLS, Random effect - RE, Fixed effect - FE), kết quả nghiên cứu cho thấy các biến bao gồm GDP, GDP bình quân đầu người, dân số của các nước đối tác; tỷ giá hối đoái; việc gia nhập WTO và COMESA và khoảng cách từ Kenya tới các nước đối tác là những yếu tố ảnh hưởng đến dòng chảy xuất khẩu chè từ Kenya đến những quốc gia nhập khâu. Thêm vào đó, các kết quả phân tích còn cho thấy sự tăng trưởng kinh tế từ các quốc gia nhập khâu cũng có tác động đáng ké đến hoạt động xuất khâu chè của Kenya. Nadia Oktaviana, Masyhuri, Slamet Hartono (2017), với nghiên cứu “Competitiveness of Tea Exports in Asean: A Constant Market Share Analysis” [82] có mục tiêu nghiên cứu là tìm ra kha năng cạnh tranh của xuất khẩu chè trong khu vực ASEAN trong giai đoạn 2011-2014.
Bằng việc phân tích năng lực cạnh tranh của các quốc gia trong thương mại quốc tế và mô hình thị phần không đổi (CMS), báo cáo cho thấy điểm mạnh và điểm yếu của các nước xuất khẩu chè trong ASEAN, trong đó có Việt Nam. Thế mạnh của xuất khẩu chè tại Việt Nam là ảnh hưởng của tăng trưởng 7 xuất khâu thế giới, hiệu ứng thành phần hàng hóa và hiệu ứng cạnh tranh. Ngược lại, thế yếu lại là ảnh hưởng của phân phối thị trường. To The Nguyen, Nguyen Anh Tuan, Le Phuong Thao (2020) đã có bai nghiên cứu “Vietnamese Tea Exporting and Forecasting to 2030” [81].
Nghiên cứu xác định cac yếu tố ảnh hưởng đến lượng chè xuất khâu của Việt Nam, cụ thé là các yếu tố bên trong của sản lượng ché cả nước, năng suất, diện tích đất canh tác và các yêu tố bên ngoài của giá xuất khẩu, lượng chè xuất khâu thế giới (không bao gồm Việt Nam). Nhóm tác giả đã sử dụng mô hình tuyến tính chuỗi thời gian để ước tính mối quan hệ giữa lượng chè xuất khẩu và các yếu tô tác động đến. Kết qua đưa ra cho thấy rằng ngoại trừ tổng sản lượng trong nước, các yếu tố như diện tích sản xuất, giá xuất khẩu và năng suất có tác động tích cực đến lượng chè xuất khẩu; song; sản lượng chè thế giới có tác động tiêu cực đáng kể. Trong bai nghiên cứu “Developing Tea Market through Analyzing the Value Chain of Vietnam Tea Industry” của nhóm tác gia Nguyen Cong Bien, Nguyen Thi Minh Phuong, Nguyen Thi Thu Cuc (2018) [80], thông qua phân tích chuỗi giá tri ngành chè Việt Nam, nhận thấy được rằng ngành chè Việt Nam là một trong những mặt hàng kinh tế xuất khẩu chủ lực của Việt Nam.
Chè là ngành tiềm năng sẽ tăng về chất lượng, số lượng và giá bán. Báo cáo cho thấy tầm quan trọng của ngành chè Việt Nam trong hoạt động xuất khâu sang các thị trường lớn trên thế giới. Dé từ đó, khang định được rang nâng cao chuỗi giá trị ngành chè Việt Nam là một trong những yếu tố thúc day sự phát triển và mở rộng thị trường chè trong thị trường quốc tế. Qua đó, báo cáo đề xuất một số giải pháp nhằm phát triển thị trường chè Việt Nam trong khoảng thời gian tới.
Khoảng trống nghiên cứu Thông qua việc tổng quan các tài liệu nghiên cứu trong nước và quốc tế về hoạt động xuất khẩu hàng hóa, trong đó có nông sản (cụ thể là chè), các nghiên cứu đã phân tích, chỉ rõ các yếu tố tác động đến hoạt động xuất khẩu chè của các quốc gia trên thế giới bang các mô hình kinh tế lượng. Trong đó, cụ thể các yếu tổ được nhắc đến nhiều nhất có tác động đến xuất khâu nông sản là GDP, dân SỐ, khoảng cách địa lý, GDP bình quân, gia nhập WTO. Bên cạnh đó còn có một số yếu tố khác như diện tích đất nông nghiệp, tiếp giáp biển, các hiệp định FTA được ký kết, thị hiểu người tiêu dùng,.cũng được nhac đên trong các nghiên cứu. 8 Ngoài ra, một số bài nghiên cứu đánh giá về tầm quan trọng của xuất khâu ngành chè trên thị trường trong nước và thị trường quốc tế.