Mở đầu Chương này sẽ giới thiệu tổng quát về đề tài nghiên cứu, xác định mục tiêu nghiên cứu, phạm vi và phương pháp nghiên cứu được thực hiện, ý nghĩa khoa học của vấn đề nghiên cứu và kết cấu của bài nghiên cứu. Chương 2: Cơ sở lý luận và mô hình nghiên cứu Chương này sẽ giới thiệu cơ sở lý luận của mô hình nghiên cứu đồng thời đưa ra mô hình nghiên cứu đề xuất. Chương 3: Thiết kế nghiên cứu Chương này sẽ trình bày quy trình nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu để kiểm 6 định thang đo các giả thuyết, mô hình nghiên cứu đề xuất bổ sung và mẫu nghiên cứu định lượng chính thức. Sau cùng, tác giả sẽ xây dựng các giả thuyết nghiên cứu và đo lường các biến trong mô hình nghiên cứu, đưa ra kỳ vọng dấu của các biến độc lập.
Chương 4: Phân tích kết quả nghiên cứu Chương này sẽ trình bày việc phân tích, xử lý các dữ liệu đã thu thập được từ bảng câu hỏi khảo sát bằng phần mềm SPSS 20. Cụ thể phân tích độ tin cậy của thang đo qua hệ số Cronbach’s Alpha, phân tích nhân tố khám phá EFA và kiểm định giả thuyết nghiên cứu để biết được cường độ tác động của các biến độc lập lên biến phụ thuộc từ đó xác định được các yếu tố tác động đến ý định mua thực phẩm hữu cơ tại TPHCM. Chương 5: Kết luận và các giải pháp Chương này sẽ trình bày kết luận của nghiên cứu, từ đó đề xuất các giải pháp làm tăng sức mua nhằm phát triển thị trường tiêu dùng thực phẩm hữu cơ tại TP. Tác giả sẽ tóm tắt kết quả chính của nghiên cứu, đưa ra một số hạn chế và kiến nghị định hướng cho những nghiên cứu tiếp theo.
Đồng thời, tác giả cũng đưa ra những đóng góp cho nhà quản trị và doanh nghiệp làm công tác sản xuất, phân phối và tiếp thị thực phẩm hữu cơ. 7 Chương II: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU Chương này cung cấp cơ sở lý luận của mô hình nghiên cứu bao gồm tổng quan về thực phẩm hữu cơ, tình hình sản xuất và tiêu dùng thực phẩm hữu cơ tại TP HCM, các lý thuyết về hành vi tiêu dùng, ý định mua, và các lý thuyết liên quan đến ý định mua được sử dụng trong đề tài nghiên cứu; đồng thời tổng hợp và phân tích các nghiên cứu trước có liên quan. Trên cơ sở đó, đề xuất các giả thuyết và mô hình nghiên cứu. Thực phẩm hữu cơ a.
Thế nào là thực phẩm hữu cơ Theo Bách khoa toàn thư mở Wikipedia: Thực phẩm hữu cơ là những loại thực phẩm được sản xuất bằng phương thức canh tác hữu cơ. Phương thức canh tác hữu cơ yêu cầu không sử dụng phân bón hóa học, các hóa chất bảo vệ thực vật độc hại, các chất kích thích tăng trưởng. Nền nông nghiệp với các phương thức canh tác hữu cơ gọi là nền nông nghiệp hữu cơ. Theo chương trình hữu cơ quốc gia của USDA: Thực phẩm hữu cơ là thực phẩm trồng hoặc nuôi không sử dụng các chất phụ gia, phẩm màu, hóa chất tổng hợp (ví dụ: phân bón, thuốc trừ sâu, nhân tố kích thích…), bức xạ, hoặc nguồn gốc biến đổi gen và được chứng nhận hợp tiêu chuẩn U.A tiêu chuẩn quốc gia về chương trình hữu cơ.
Theo Hiệp hội Nông nghiệp Hữu cơ Việt Nam: Thực phẩm hữu cơ là thực phẩm đã được chứng nhận hữu cơ của PGS Việt Nam (Văn phòng Hiệp hội Nông nghiệp Hữu cơ Việt Nam), Hệ thống bảo đảm cùng tham gia– PGS (Participatory Guarantee System) và được Liên đoàn quốc tế các phong trào nông nghiệp hữu cơ (IFOAM) chấp nhận, đi kèm với các tiêu chuẩn quy định nhằm giám sát cách thức mà các thực phẩm đã được trồng, thu hoạch và chế biến đảm bảo rằng các loại thực phẩm được trồng mà không sử dụng thuốc trừ sâu và thuốc diệt cỏ độc hại, các thành phần biến đổi gen (GMO), thuốc kháng sinh hay hormone tăng trưởng nhân tạo. Với quy trình sản xuất chặt chẽ, thực phẩm hữu cơ đã loại bỏ gần như hoàn toàn hóa chất độc hại và được chứng minh là có hàm lượng dinh dưỡng nhiều hơn 50% (gồm khoáng chất, vitamin) so với thực phẩm được sản xuất theo lối thông thường. Tuỳ theo số phần trăm thành phần hữu cơ có thể phân loại sản phẩm hữu cơ bao gồm: (1) “Hữu cơ hoàn toàn” (100% organic): không thêm một chất nào khác. (3) “Sản xuất với thành phần hữu cơ”: có ít nhất 70% hữu cơ.
(4) “Có thành phần hữu cơ”: dưới 70% hữu cơ. Ngoài ra có thể phân loại thực phẩm hữu cơ gồm thực phẩm hữu cơ động vật và thực phẩm hữu cơ thực vật. Thực phẩm hữu cơ động vật là động vật được nuôi ở những vùng riêng biệt mà trong thức ăn hay nước uống không có hóa chất như thuốc bảo vệ thực vật. Động vật được nuôi lớn tự nhiên không sử dụng thuốc kích thích tăng trưởng, ngoại trừ thuốc kháng sinh để chữa bệnh trước 90 ngày giết mổ.
Thực phẩm hữu cơ thực vật là rau củ quả được trồng tự nhiên; tưới, bón bằng phân thiên nhiên không dùng hóa chất bảo vệ thực vật, phân bón hóa học mà sử dụng phân thiên nhiên lấy từ xác động vật, phân trộn từ các cây cỏ mục nát. Trong bài nghiên cứu này tác giả sẽ sử dụng định nghĩa của Hiệp hội nông nghiệp hữu cơ Việt Nam. Thực phẩm hữu cơ được xem xét ở đây bao gồm nhóm thực phẩm động vật và thực phẩm thực vật tươi sống, thực phẩm qua sơ chế, chế biến. Tình hình sản xuất thực phẩm hữu cơ tại Việt Nam Về sản xuất Giống như nhiều nước khác trên thế giới, nông dân nước ta được đã biết canh tác hữu cơ theo cách truyền thống từ hàng nghìn năm nay, nhưng sản xuất NNHC theo khái niệm hiện tại của Hiệp hội NNHC Quốc tế (IFOAM) thì còn rất mới mẻ và mới bắt đầu ở Việt Nam vào cuối những năm 1990 với một vài sáng kiến chủ yếu tập trung khai thác các sản phẩm tự nhiên, như các loại gia vị và tinh dầu thực vật, để xuất khẩu sang một số nước châu Âu (Simmons và Scott, 2008).
Theo số liệu IFOAM công bố năm 2012 (FiLB và IFOAM, 2012), năm 2010 Việt Nam có 19.272 ha sản xuất NNHC được chứng nhận (tương đương 0,19% tổng diện tích canh tác), cộng với 11.650 ha mặt nước nuôi trồng thủy sản hữu cơ và 2.565 ha rừng nguyên sinh để khai thác các sản phẩm hữu cơ tự nhiên ước đạt khoảng 12 - 14 triệu USD (Theo báo cáo của Hiệp Hội NNHC Việt Nam, 2012). Các sản phẩm hữu cơ đang được xuất khẩu là chè, tôm, gạo, quế, hồi, tinh dầu, tuy nhiên số lượng còn rất hạn chế. Về chứng nhận chất lượng Việt Nam vẫn chưa có hệ thống các tiêu chuẩn quốc gia và khung pháp lý cho sản xuất, chứng nhận và giám sát chất lượng sản phẩm NNHC. Hiện cả nước có 13 tổ chức bao gồm các nhóm nông dân sản xuất và các doanh nghiệp được các tổ chức quốc tế chứng nhận đạt chuẩn để xuất khẩu sản phẩm hữu cơ sang các nước châu Âu, Mỹ.
Theo Cục Trồng trọt (2013), Bộ NN - PTNT đang tiến hành xây dựng qui chuẩn mới cho sản phẩm NNHC được sản xuất tại Việt Nam, dựa theo tiêu chuẩn quốc tế IFOAM. 9 Công ty tư nhân như Qualiservice, gần đây đã cố gắng nâng cao năng lực dịch vụ để hỗ trợ nông dân được cấp chứng chỉ chất lượng (theo hướng “hữu cơ” hoặc “ViệtGAP”) cho sản phẩm trồng trọt và thủy sản đạt chuẩn. Về thị trường tiêu dùng Thị trường nội địa cho sản phẩm NNHC hiện chưa phát triển. Hiện không có số liệu thống kê chi tiết về chủng loại và số lượng sản phẩm hữu cơ được sản xuất và tiêu thụ hàng năm, tuy nhiên sản phẩm rau hữu cơ là để tiêu thụ nội địa, còn các sản phẩm hữu cơ khác như chè, tôm, gạo.
là để xuất khẩu. Hiện cũng không có số liệu về chủng loại và số lượng sản phẩm hữu cơ được nhập khẩu cho tiêu dùng trong nước tuy nhiên có báo cáo thông tin rằng việc nhập khẩu và tiêu dùng các sản phẩm hữu cơ đang ngày càng tăng ở TP. Hà Nội và TP. Hồ Chí Minh.
Chính sách chính phủ Chính phủ Việt Nam luôn ủng hộ mạnh mẽ các nỗ lực phát triển một nền nông nghiệp bền vững và thân thiện môi trường, nâng cao năng suất và sức cạnh tranh của sản phẩm nông nghiệp, trong đó có NNHC. Tuy nhiên, vẫn còn thiếu các chính sách cụ thể về định hướng chiến lược và kế hoạch hành động quốc gia nhằm thúc đẩy sản xuất NNHC phát triển. Cuối năm 2011- Chính phủ cho phép thành lập Hiệp hội NNHC Việt Nam và từ đầu năm 2012 - Hiệp hội bắt đầu đi vào hoạt động là tín hiệu tốt về sự ủng hộ của Nhà nước cho NNHC. Đầu năm 2012, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành một số chính sách hỗ trợ việc áp dụng quy trình thực hành sản xuất nông nghiệp tốt trong nông nghiệp, lâm nghiệp và thủy sản, trong đó có NNHC.
Bộ NN - PTNT đã phê duyệt chương trình khung nghiên cứu khoa học và công nghệ ngành NN - PTNT giai đoạn 2013-2020, trong đó có NNHC. Các cơ quan, tổ chức hoạt động về NNHC Các cơ quan nhà nước có liên quan đến lĩnh vực NNHC gồm: Bộ NN - PTNT, Bộ Khoa học - Công nghệ, Bộ Tài nguyên và Môi trường, Bộ Giáo dục và Đào tạo. Hầu hết các viện và cơ sở nghiên cứu quan tâm đến NNHC đều trực thuộc Bộ NN - PTNT, với chức năng nhiệm vụ liên quan đến đối tượng cây trồng, vật nuôi và thủy sản, gồm Viện Khoa học Nông nghiệp Việt Nam (VAAS) và các viện/ trung tâm nghiên cứu trực thuộc, Viện Chăn nuôi, các Viện Nghiên cứu Nuôi trồng Thủy sản (RIA1, RIA2, RIA3.) và các trường Đại học Nông nghiệp. Các tổ chức phi chính phủ và doanh nghiệp liên quan đến NNHC gồm: Hội Nông dân Việt Nam (VNFU) cho rau hữu cơ, Công ty ECOMART cho chè hữu cơ; Organik Đà Lạt cho rau hữu cơ; Doanh nghiệp Trang trại Xanh Viễn Phú cho gạo hữu cơ và các mô hình nuôi tôm sinh thái tại tỉnh Cà Mau.
Một số tổ chức quốc tế hỗ trợ phát triển NNHC ở Việt Nam như tổ chức ADDA của Đan Mạch, GTZ của Đức và Tổng cục Phát 10 triển Nông thôn RDA của Hàn Quốc.