Phần Mở Đầu; Phần Kết luận; Phụ lục. Cấu trúc khóa luận Chƣơng 1: Giới thiệu nghiên cứu Chƣơng 2: Cơ sở lý thuyết và giả thuyết nghiên cứu Chƣơng 3: Phƣơng pháp nghiên cứu Chƣơng 4: Kết quả nghiên cứu và thảo luận Chƣơng 5: Kết luận và hàm ý quản trị TÓM TẮT CHƢƠNG 1 Trong chƣơng 01, tác giả trình bày các tóm tắt nội dung quan trọng và cần thiết cho nghiên cứu. Thông qua lý do chọn đề tài và các mục trong chƣơng giúp tác giả đã khái quát sơ lƣợc tạo cơ sở cho các chƣơng tiếp theo. Qua đó, giúp ngƣời đọc có thể dễ dàng hình dung và có cái nhìn khái quát về các vấn đề đƣợc đặt ra trong nghiên cứu.
6 CHƢƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ GIẢ THUYẾT NGHIÊN CỨU 2. Khái niệm về thực phẩm Viện Từ điển học và Bách khoa thƣ Việt Nam (trực thuộc Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam) giải nghĩa “thực phẩm là những vật phẩm có tác dụng nuôi sống con ngƣời. Thực phẩm qua quá trình đồng hóa và dị hóa cung cấp cho cơ thể lƣợng calo cần thiết duy trì các hoạt động sống. Nhu cầu thực phẩm của cơ thể phụ thuộc vào lứa tuổi, thể trọng, cƣờng độ lao động, tình trạng sức khỏe,.
Trung bình mỗi tháng một ngƣời cần khoảng 60 kilogram thực ăn các loại. Theo thành phần hóa học, thực phẩm đƣợc chia thành: thực phẩm đạm (cá, thịt, sữa, trứng,.) thực phẩm giàu chất đƣờng (thóc, gạo, bột mì, đƣờng,.), thực phẩm giàu chất béo (lạc, vừng,. Theo nguồn gốc, thực phẩm đƣợc chia thành thực phẩm có nguồn gốc động vật, thực phẩm có nguồn gốc thực vật, thực phẩm có nguồn gốc vi sinh vật. Thực phẩm có loại ăn đƣợc ngay, có loại phải qua chế biến thì cơ thể mới hấp thu đƣợc”.
Thực phẩm là bất kỳ vật phẩm nào, bao gồm các chất dinh dƣỡng nhƣ: chất đạm (protein), chất bột (cacbohydrat), chất béo (lipit) , hoặc nƣớc giúp cung cấp các chất dinh dƣỡng để nuôi sống con ngƣời hay động vật thông qua việc tiêu thụ trực tiếp thức. Trải qua các thời kỳ khác nhau của lịch, thức ăn đƣợc chế biến đa dạng và có nhiều hình thức khác nhau nhƣ thực phẩm tƣơi sống, thực phẩm đông lạnh, thực phẩm chay, thực phẩm ăn kiêng,… nhằm phục vụ nhu cầu cấp thiết của con ngƣời. Khái niệm về thực phẩm hữu cơ Thực phẩm hữu cơ là thực phẩm đƣợc sản xuất bằng phƣơng pháp canh tác hữu cơ, đƣợc trồng, xử lý và chế biến tránh các chất tổng hợp, kháng sinh hormone, phụ gia nhân tạo (chất bảo quản, chất làm ngọt, hƣơng liệu, phẩm màu và bột ngọt 7 (MSG) và các chất gây hại cho sức khỏe con ngƣời. Trong quá trình trồng cây hoặc sản xuất sản phẩm hữu cơ cần đáp ứng các đòi hỏi nhƣ: sử dụng quy trình và kỹ thuật tự nhiên, tôn trọng và bảo vệ quyền lợi động vật, sử dụng phƣơng pháp thân thiện với môi trƣờng và an toàn cho sức khỏe của ngƣời tiêu dùng.
Thông qua Bộ Nông nghiệp Hoa Kỳ (USDA), NOP và Đạo luật Sản xuất Thực phẩm Hữu cơ nhằm đảm bảo với ngƣời tiêu dùng rằng TPHC họ mua đƣợc chế biến, sản xuất và chứng nhận cần thiết với các tiêu chuẩn hữu cơ quốc gia. Mục tiêu của thực phẩm hữu cơ là cải thiện sức khỏe của con ngƣời bằng cách loại bỏ các chất nguy hiểm khỏi thực phẩm, cung cấp các sản phẩm có thành phần dinh dƣỡng cao, tốt cho sức khỏe. Thực phẩm hữu cơ có nhiều chất oxy hóa và vitamin hơn, nồng độ nitrat thƣờng thấp các sản phẩm khác đã đƣợc chứng minh qua nhiều bài nghiên cứu. Sử dụng TPHC sẽ giảm nguy cơ tiếp xúc với các chất độc hại gây ra cho con ngƣời, động vật bằng các phƣơng pháp sản xuất gần gũi với môi trƣờng và không chứa những thành phần biến đổi gen.
Tuy nhiên, tiêu thụ thực phẩm hữu cơ không hoàn toàn loại bỏ nguy cơ tiêu thụ các chất ô nhiễm. Vì vậy, khi mua hàng, khách hàng cần đọc các nhãn thực phẩm cẩn thận và có thể lựa chọn những loại đƣợc dán nhãn “certified organic” (hữu cơ đƣợc chứng nhận) bởi một trong các tổ chức đƣợc công nhận bởi Bộ Nông Nghiệp, Thủy Sản và Lâm nghiệp. Việc tìm hiểu kĩ hơn và cần kiến thức về thực phẩm hữu cơ để đƣa ra quyết định sáng suốt để bảo đảm an toàn tính mạng con ngƣời. Tóm lại, TPHC là thực phẩm đƣợc chế biến, nuôi trồng và phát triển mà không dùng hóa chất tổng hợp (phân bón hóa học, thuốc trừ sâu độc hại, chất bảo quản, v.v), sinh vật biến đổi gen hoặc hormone tăng trƣởng.
Thực phẩm hữu cơ không nhất thiết phải hoàn toàn không có hóa chất, nhƣng lƣợng thuốc trừ sâu sẽ đƣợc kiểm soát chặt chẽ hơn so với các sản phẩm khác. Khái niệm về ý định hành vi Theo Ajzen, “ý định đƣợc xem là bao gồm các yếu tố động cơ ảnh hƣởng đến hành vi của mỗi cá nhân; các yếu tố này cho thấy mức độ sẵn sàng hoặc nỗ lực mà mỗi cá nhân sẽ bỏ ra để thực hiện hành vi”. Thuyết hành vi có hoạch định cho rằng ý định thực hiện hành vi của một ngƣời đƣợc xác định bằng hành vi của họ. Và ý 8 định bị tác động bởi hai yếu tố chính: thái độ của cá nhân dẫn đến hành vi và chuẩn mực chủ quan.
Thuyết hành vi có hoạch định (TPB) Nguồn: Ajzen (1985) 2. Khái niệm về ngƣời tiêu dùng Theo từ điển Black‟s Law Dictionary, một từ điển luật đƣợc sử dụng phổ biến nhất ở Hoa Kỳ, thì “Ngƣời tiêu dùng là ngƣời mua hàng hóa, dịch vụ vì mục đích sử dụng cho cá nhân, gia đình, hộ gia đình mà không nhằm mục đích bán lại”> Trong Luật Bảo vệ quyền lợi ngƣời tiêu dùng đƣợc ban hành năm 2010 có định nghĩa “Ngƣời tiêu dùng là ngƣời mua, sử dụng hàng hóa, dịch vụ cho mục đích tiêu dùng, sinh hoạt của cá nhân, gia đình và tổ chức” (Quốc hội nƣớc Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, 2010). Theo Kolter và Armstrong (2011), ngƣời tiêu dùng nói chung đƣợc chia thành hai nhóm cơ bản: ngƣời tiêu dùng cá nhân và ngƣời tiêu dùng tổ chức. Ngƣời tiêu dùng cá nhân là hộ gia đình và cá nhân trải nghiệm dịch vụ và dùng hàng hóa để phục vụ mục tiêu chủ yếu là dùng cho chính họ, cho gia đình, ngƣời thân, bạn bè.
Ngƣời tiêu dùng này còn đƣợc gọi là “ngƣời tiêu dùng cuối cùng”. Ngƣời tiêu dùng tổ chức gồm các tổ chức kinh doanh (doanh nghiệp), đơn vị hành chính sự nghiệp,. Họ là những ngƣời mua hàng hóa, dịch vụ nhằm sản xuất ra những sản phẩm và dịch vụ khác để bán, cho thuê hoặc cung cấp cho ngƣời khác. Ở nghiên cứu này, “ngƣời tiêu dùng cuối cùng” là khách hàng đƣợc tác giả nhắc đến để tiến hành nghiên cứu khảo sát.
Khái niệm ý định mua hàng Ý định mua hàng là xác suất mà khách hàng sẽ mua một sản phẩm hoặc dịch vụ. Để đánh giá ý định mua hàng, các nhà tiếp thị sử dụng mô hình dự đoán để giúp xác định khả năng của kết quả trong tƣơng lai dựa trên dữ liệu lịch sử. Ý định hành vi là tiền đề dẫn đến hành vi. Theo Elbeck (2008), ý định mua một sản phẩm đƣợc thể hiện qua sự sẵn sàng của khách hàng tiềm năng trong việc mua sản phẩm đó.
Việc kinh doanh của một công ty có thể dựa trên việc khảo sát thị trƣờng về ý định mua của ngƣời tiêu dùng. Khoản 1 Điều 3 Luật BVQLNTD năm 2010 giải thích: “Ngƣời tiêu dùng là ngƣời mua, sử dụng hàng hóa, dịch vụ cho mục đích tiêu dùng, sinh hoạt của cá nhân, gia đình, tổ chức”. Ý định mua của ngƣời tiêu dùng đƣợc hiểu là sự sẵn sàng mua một sản phẩm nào đó trong tƣơng lai gần và chịu ảnh hƣởng bởi 3 yếu tố: thái độ, chuẩn chủ quan và nhận thức kiểm soát hành vi. Các mô hình lý thuyết liên quan 2.
Lý thuyết hành động hợp lý Lý thuyết hành động hợp lý (TRA; Ajzen và Fishbein, 1980) là một mô hình xuất phát ban đầu từ Fishbein và đƣợc Fishbein kết hợp cùng với Ajzen điều chỉnh và phát triển hơn vào năm 1975. Theo TRA, yếu tố quan trọng nhất trong việc xác định hành vi của cá nhân là ý định thực hiện hành vi đó. Ý định này đƣợc ảnh hƣởng bởi hai thành phần chính: thái độ (Attitude) của cá nhân đối với hành vi và chuẩn chủ quan (Subjective Norm) có liên quan đến hành vi. Mô hình lý thuyết hành động hợp lý (TRA) Nguồn: Fishbein và Ajzen (1975) 2.
Lý thuyết hành vi hoạch định Lý thuyết hành vi có kế hoạch (TPB; Ajzen, 1985, 1987, 1991) đƣợc suy ra từ lý thuyết hành động hợp lý có tính ứng dụng rộng rãi hơn khi xác suất thành công và khả năng kiểm soát thực tế. Theo thuyết hành vi dự định của Ajzen (1991), tác giả cho rằng ba yếu tố sẽ chịu ảnh hƣởng đến ý định thực hiện hành là thái độ đối với hành vi, tiêu chuẩn chủ quan và nhận thực về kiểm soát hành vi. Nhằm kiểm soát các hạn chế các của lý thuyết ban đầu, các nhà nghiên cứu đã tạo ra TPB, cho rằng hành vi của con ngƣời hoàn toàn bị kiểm soát bởi lý trí. Sự tƣơng đồng giữ lý thuyết TRA và TPB là ý định cá nhân trong việc thực hành một hành vi cụ thể là nhân tố nòng cốt của hai thuyết.
Mô hình TPB Nguồn: Ajzen (1991) 2. Các nghiên cứu trƣớc 2. Nghiên cứu nƣớc ngoài Sajeeb Kumar Shrestha (2020) đã thực hiện nghiên cứu xác định và đo lƣờng các yếu tố ảnh hƣởng đến ý định mua thực phẩm cơ của ngƣời tiêu dùng. Kết quả cho thấy sự quan tâm về môi trƣờng, niềm tin và tính sẵn có là yếu tố thiết yếu để đẩy mạnh ý định mua TPHC với 200 dữ liệu đƣợc tổng hợp bằng bảng câu hỏi có sẵn.
Từ kết quả, tác giả đề xuất ra các hàm ý quản trị giúp ban quản lý của khu vực hiểu rõ ý định mua hàng của ngƣời tiêu dùng. Và lập các chiến lƣợc tiếp thị, kế hoạch quảng bá thực phẩm hữu cơ để tiếp cận đến ngƣời tiêu dùng và truyền đạt ý thức bảo vệ sức khỏe và ý thức về môi trƣờng để tạo lòng tin với khách hàng. Mostafa Zayed và Hazem Gaber (2022) mong muốn là khám phá các yếu tố có ảnh hƣởng đến ý định mua sản phẩm thực phẩm hữu cơ của ngƣời tiêu dùng tại Ai Cập dựa vào các tài liệu nghiên cứu có trƣớc. Bài nghiên cứu đã khảo sát 363 ngƣời tiêu dùng ở Ai Cập, đồng thời sử dụng phƣơng pháp mô hình cấu trúc bình phƣơng nhỏ nhất từng phần (PLS-SEM) để phân tích dữ liệu.