MỞ ĐẦU Chương này giới thiệu tổng quan đề tài nghiên cứu gồm: lý do chọn đề tài để thấy được khoảng trống các nghiên cứu trước đó mà tác giả lược khảo, mục đích và câu hỏi nghiên cứu, đối tượng, phạm vi nghiên cứu, giới thiệu sơ lược phương pháp nghiên cứu, ý nghĩa về mặt lý luận và thực tiễn của đề tài, cấu trúc đề tài. CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT Chương này tác giả giới thiệu các khái niệm, lý thuyết liên quan đến đề tài. Trong chương này, tác giả cũng sẽ trình bày lý thuyết chính được sử dụng làm nền tảng cho nghiên cứu, cũng như căn cứ vào đó để xây dựng giả thuyết cũng như đề xuất mô hình nghiên cứu. Đồng thời, tác giả cũng sẽ giới thiệu các nghiên cứu liên quan trước đó của các tác giả khác nhau.
CHƯƠNG 3: THIẾT KẾ NGHIÊN CỨU 7 Chương này tác giả đưa ra phương pháp, quy trình nghiên cứu cụ thể, các thang đo tổng hợp từ các nghiên cứu trước đó, mã hóa và điều chỉnh thang đo phù hợp với bối cảnh khu vực nghiên cứu, cách chọn mẫu, phân tích, xử lý dữ liệu, cách đánh giá các khái niệm trong mô hình. CHƯƠNG 4: PHÂN TÍCH DỮ LIỆU VÀ KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU Chương này đưa ra kết quả sau khi phân tích, xử lý các dữ liệu đã thu thập được từ bảng câu hỏi thông qua phần mềm SPSS 25, SmartPLS3 gồm: phân tích độ tin cậy, phân tích nhân tố, phân tích tương quan hồi quy, kiểm định sự phù hợp của mô hình, các giả thuyết nghiên cứu sẽ được kết luận chấp nhận hoặc bác bỏ. Đồng thời giải thích các tác động của các biến độc lập lên biến phụ thuộc. Dựa vào kết quả có được, tác giả đưa ra những lý giải và kết luận khách quan để trả lời các câu hỏi đã đặt ra ở phần giới thiệu đề tài nghiên cứu.
CHƯƠNG 5: KẾT LUẬN VÀ HÀM Ý QUẢN TRỊ Chương này tác giả sẽ tóm tắt lại kết quả nghiên cứu chính của đề tài, những đóng góp về mặt lý thuyết, thực tiễn, những hạn chế trong quá trình nghiên cứu và hướng nghiên cứu tương lai cho đề tài. Tóm tắt chương 1: trong chương này, tác giả trình bày lý do chọn đề tài, các nghiên cứu trước đây để thấy được khoảng trống nghiên cứu, giới thiệu sơ lược phương pháp nghiên cứu của đề tài. Đưa ra mục tiêu, câu hỏi nghiên cứu phù hợp, xác định đối tượng, phạm vi nghiên cứu và cấu trúc nghiên cứu. Tác giả tiếp tục tìm hiểu các khái niệm, lý thuyết liên quan, qua đó đề xuất các giả thuyết và xây dựng mô hình nghiên cứu ở chương 2.
8 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT – MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU 2.1 Khái niệm liên quan Sản phẩm xanh Ottman & Reilly (1998) đưa ra định nghĩa “các sản phẩm xanh thường bền, không độc hại, được làm bằng vật liệu tái chế hoặc đóng gói tối thiểu. Tất nhiên, không có sản phẩm nào hoàn toàn xanh, vì tất cả chúng đều sử dụng hết năng lượng và tài nguyên và tạo ra các sản phẩm phụ và khí thải trong quá trình sản xuất, vận chuyển đến kho và cửa hàng, sử dụng và cuối cùng là thải bỏ. Vì vậy, khái niệm xanh là tương đối, mô tả các sản phẩm ít tác động đến môi trường hơn so với các sản phẩm thay thế của chúng”. Chai & Chen (2010), Suki (2013) cho rằng các sản phẩm xanh hay gọi là các sản phẩm thân thiện với môi trường và sinh thái, bao gồm các sản phẩm kết hợp hàm lượng chất có thể tái chế, đồng thời chứa ít hóa chất độc hại giúp giảm thiểu tác động đến môi trường.
Joshi & Rahman (2016) cho rằng một sản phẩm xanh phải đáp ứng được nhu cầu của người tiêu dùng mà không gây hại cho môi trường, là một sản phẩm sử dụng vật liệu an toàn hơn với môi trường, có thể tái chế. Nghiên cứu của Durif và cộng sự (2010) đưa ra một định nghĩa tích hợp “sản phẩm xanh là sản phẩm có thiết kế và / hoặc có các thuộc tính (và / hoặc sản xuất và / hoặc chiến lược) sử dụng tài nguyên tái chế (tái tạo / không độc hại / phân hủy sinh học) và cải thiện hoặc giảm tác động thiệt hại môi trường, độc hại môi trường trong toàn bộ vòng đời của nó”. Một sản phẩm “xanh” có thể được hiểu là một sản phẩm được cấu thành từ các nguyên liệu và gắn liền với các hoạt động sản xuất trong toàn bộ vòng đời của nó được công nhận về mặt xã hội và trách nhiệm với môi trường (Cai và cộng sự, 2017). Sdrolia & Zarotiadis (2019) phân loại sản phẩm xanh là các sản phẩm hữu hình và vô hình giúp giảm tác động trực tiếp hoặc gián tiếp đến môi trường trong toàn bộ vòng đời của nó, theo công nghệ và khoa học hiện tại.
Nhìn chung, sản phẩm xanh là sản phẩm ít hoặc không gây hại cho môi trường so với sản phẩm thay thế cùng loại (Moser, 2016). Trong nghiên cứu này, tác giả hiểu “sản phẩm xanh là một sản phẩm hữu hình hoặc vô hình được hình thành hoặc chế biến từ các nguyên liệu thân thiện với môi 9 trường và công dụng của sản phẩm đó không gây hại đến môi trường so với sản phẩm thay thế khác cùng loại”.2 Lý thuyết nền tảng 2.1 Lý thuyết hành động hợp lý (Theory of reasoned action – TRA) Lý thuyết hành động hợp lý được đề xuất lần đầu bởi Fishbein (1967), sau đó (Azjen & Fishbein, 1980; Fishbein & Ajzen, 1975) hoàn thiện và công bố, nội dung cho rằng ý định hành vi là tiền đề trực tiếp dẫn đến hành vi, là một chức năng của niềm tin về khả năng thực hiện một hành vi cụ thể sẽ dẫn đến một kết quả cụ thể và được quyết định bởi thái độ cá nhân cùng với sự tác động của chuẩn chủ quan quanh việc thực hiện hành vi đó. Sơ đồ khung khái niệm để dự đoán các ý định và hành vi cụ thể. Nguồn: Fishbein & Ajzen (1975).
Niềm tin về hành vi được coi là ảnh hưởng cơ bản đến thái độ của một cá nhân đối với việc thực hiện hành vi, trong khi niềm tin về quy tắc lại ảnh hưởng đến chuẩn chủ quan của cá nhân về việc thực hiện hành vi. Do đó, thông tin hoặc niềm tin đặc biệt ảnh hưởng đến ý định và hành vi tiếp theo thông qua thái độ hoặc thông qua các chuẩn chủ quan. Mô hình đường dẫn của TRA. Nguồn: Ajzen và cộng sự (1992).
Các thành phần trong TRA bao gồm: Hành vi (behavior) là những hành động có thể quan sát được của chủ thể (Fishbein & Ajzen, 1975) được quyết định bởi ý định hành vi. Ý định hành vi (behavioural intentions) được đo lường bằng một thủ tục đặt đối tượng theo một xu hướng chủ quan - xác suất liên quan đến mối quan hệ giữa bản thân chủ thể và một số hành động (Fishbein & Ajzen, 1975). Thái độ (attitude) theo Fishbein & Ajzen (1975) đề xuất nên được đo lường bằng một thủ tục định vị đối tượng trên một chiều kích thích hoặc đánh giá lưỡng cực đối với một đối tượng nhất định. Chuẩn chủ quan (subjective norms) là nhận thức của một cá nhân, với những người tham khảo quan trọng của cá nhân đó, cho rằng hành vi nên hay không nên được thực hiện, có thể được đo lường thông qua những người có liên quan với chủ thể, được xác định bằng niềm tin chuẩn mực cho việc mong đợi thực hiện hành vi và động lực cá nhân thực hiện phù hợp với sự mong đợi đó.
Giống như biến thái độ đối với hành vi, quy phạm chủ quan của một người được coi là yếu tố quyết định chính đến ý định thực hiện hành vi của chủ thể (Fishbein & Ajzen, 1975).2 Lý thuyết hành vi có kế hoạch (Theory of planned behaviour – TPB) Lý thuyết về hành vi có dự định (TPB) được Ajzen (1985) mở rộng thêm điều kiện trên nền tảng của thuyết hành động hợp lý (TRA). Kiểm soát hành vi nhận thức được bao gồm như một biến ngoại sinh vừa có ảnh hưởng trực tiếp đến hành vi vừa có tác động gián tiếp đến hành vi qua trung gian ý định hành vi, tác động gián tiếp dựa trên giả định rằng kiểm soát hành vi được nhận thức có tác động thúc đẩy các ý định hành vi. Khi mọi người tin rằng họ có ít khả năng kiểm soát việc thực hiện hành vi vì thiếu các nguồn lực cần thiết, thì ý định thực hiện hành vi của họ có thể thấp ngay cả khi họ có thái độ tốt và (hoặc) các chuẩn mực chủ quan liên quan đến việc thực hiện hành vi. Mô hình đường dẫn của TPB Nguồn: Ajzen và cộng sự (1992).
Lý thuyết về hành vi có kế hoạch (TPB) dự đoán hai tác động có thể có đối với việc kiểm soát hành vi nhận thức được đối với hành vi. Trong trường hợp thứ nhất, kiểm soát hành vi nhận thức phản ánh các yếu tố có ảnh hưởng gián tiếp đến hành vi thông qua biến ý định hành vi, trường hợp thứ hai, kiểm soát hành vi nhận thức phản ánh kiểm 12 soát thực tế và có mối liên hệ trực tiếp đến hành vi không qua trung gian của biến ý định hành vi. Theo Ajzen (1991), ý định hành vi chịu tác động của ba nhân tố: thái độ hướng đến hành vi; chuẩn chủ quan và kiểm soát hành vi nhận thức, nhân tố trung tâm trong TPB là ý định hành vi của chủ thể trong việc thực hiện hành vi nhất định. Mô hình thuyết hành vi dự định Nguồn: Ajzen (1991).
Kiểm soát hành vi nhận thức theo Ajzen (1991) là các nguồn lực và cơ hội có sẵn cho một người ở một mức độ nào đó phải quyết định khả năng đạt được hành vi. Tuy nhiên, mối quan tâm tâm lý lớn hơn sự kiểm soát thực tế là nhận thức về sự kiểm soát hành vi và tác động lên ý định và hành động. Ajzen (2020) đã đồng ý rằng về nguyên tắc, TPB sẵn sàng được mở rộng thêm các yếu tố dự báo bổ sung miễn là các tiêu chí được đáp ứng: biến được đề xuất là biến hành vi và tuân theo nguyên tắc tương thích; có thể quan niệm biến đề xuất là một yếu tố nhân quả xác định ý định hoặc hành động; các yếu tố bổ sung được đề xuất độc lập về mặt khái niệm với các yếu tố dự báo hiện có của lý thuyết; các yếu tố được xem xét có khả năng áp dụng cho một loạt các hành vi.