chương 1 đã giới thiệu tổng quan về đề tài nghiên cứu. Chương 2 sẽ trình bày những nội dung cơ bản về các lý thuyết liên quan và các nghiên cứu trước làm nền tảng cho nghiên cứu này. Từ đó đề xuất mô hình nghiên cứu. Khái niệm Thu nhập Theo Tổng cục thống kê (http://portal.vn): Thu nhập là tổng số tiền kiếm được hoặc thu góp được trong một khoảng thời gian nhất định (thông thường là một năm), hay thu nhập là phần giá trị còn lại của sản phẩm sau khi trừ đi các khoản chi phí vật chất hay chi phí thuê ngoài.
Tổng thu nhập của hộ thường được thu từ một nguồn hay nhiều nguồn. Qua cuộc điều tra của tổng cục Thống kê chia thu nhập thành 5 nguồn: - Thu nhập từ hoạt động sản xuất nông nghiệp: bao gồm thu nhập do trồng trọt, chăn nuôi gia súc, gia cầm, nuôi trồng thủy sản và các hoạt động liên quan đến nông nghiệp. - Thu nhập từ tiền lương, tiền công: bao gồm thu nhập chính 7 ngày, các công việc phụ 7 ngày, việc làm chính 12 tháng. Thành phần thu nhập của mỗi công việc bao gồm cả tiền mặt và giá trị hiện vật nhận được từ các khoản: tiền công, trị giá ăn trưa, các loại phụ cấp, bảo hộ lao động có liên quan đến công việc - Thu nhập ngành nghề tự sản xuất, ngành nghề cá thể đó là ngành tự do, có thể mua bán, sản xuất chế biến các sản phẩm trong nông nghiệp hoặc phi nông nghiệp các chủ hộ tự bỏ vốn và lao động gia đình có khi thuê ngoài.
- Thu nhập từ hưu trí, trợ cấp học bổng: thu nhập bình quân từ quỹ bảo hiểm xã hội như trợ cấp hưu trí, mất sức, các khoản trợ cấp xã hội khác và học bổng trợ cấp giáo dục. - Thu nhập khác: bao gồm tiền cho thuê nhà ở, thu từ quà biếu, tặng của người lao động, thu nhập bình quân từ lãi cho vay mượn trong 12 tháng kể cả nhận và sẽ nhận, bao gồm các khoản tiền và giá trị hiện vật có tính chất trợ giúp đã nhận được. Theo tổ chức Lao động Quốc tế - ILO (2006), tiền lương là sự trả công hoặc thu nhập có thể hiện bằng tiền được ấn định bằng thỏa thuận giữa người lao động và người Luận văn tốt nghiệp thạc sĩ kinh tế học 5 sử dụng lao động, hoặc theo qui định của pháp luật tại quốc gia của người sử dụng lao động. Theo CIEM (2012), thu nhập được hiểu là tất cả những gì bằng tiền và hiện vật mà người lao động nhận được từ phía người sử dụng bao gồm: tiền lương (tiền công), các loại phụ cấp lương, tiền thưởng.tiền lương khác thu nhập.
Tiền lương là một phần của thu nhập hay nói cách khác tiền lương cộng các khoản thu khác ngoài lương là thu nhập. Theo Vũ Đình Ánh (2012), “Tiền lương là khoản thu nhập mang tính thường xuyên mà nhân viên được hưởng từ công việc” “Tiền lương được hiểu là số lượng tiền tệ mà người sử dụng lao động trả cho người lao động khi họ hoàn thành công việc theo chức năng, nhiệm vụ được pháp luật quy định hoặc hai bên đã thỏa thuận trong hợp đồng lao động”. Tiền công chỉ là một biểu hiện, một tên gọi khác của tiền lương. Tiền công gắn trực tiếp hơn với các quan hệ thỏa thuận mua bán sức lao động và thường được sử dụng trong lĩnh vực sản xuất kinh doanh, dịch vụ, các hợp động dân sự thuê mướn lao động có thời hạn.
Khái niệm tiền công được sử dụng phổ biến trong những thỏa thuận thuê nhân công trên thị trường tự do và có thể gọi là giá công lao động. Khu vực kinh tế phi chính thức: 2.1 Đặc điểm của khu vực phi chính thức trong thị trƣờng lao động - Điều kiện lao động không được đảm bảo. Các quyền lợi về bảo hiểm xã hội, phân chia lợi nhuận, nghỉ phép được trả công gần như không tồn tại đối với việc làm trong khu vực này, thậm chí tỷ trọng lao động phụ thuộc không hề được đảm bảo bẳng bất cứ một hình thức hợp đồng nào (văn bản hay thỏa thuận) đã tăng lên. - Thu nhập thấp và điều kiện làm việc tạm bợ.
Một bộ phận khá lớn các hộ SXKD phi chính thức ở thành phố hoạt động trong điều kiện không có địa điểm kinh doanh cố định (VD: người bán hàng rong, lái xe ôm, …) - Tỷ lệ lao động nhập cư thấp. Lao động nhập cư của khu vực KTPCT là TP. Hồ Chí Minh thấp, khoảng 17%. Kết quả này trái với mô hình của Harris - Todaro khi mô hình này coi khu vực KTPCT là sân sau của lao động nhập cư, khi họ không tìm được việc làm ở đâu thì sẽ thâm nhập vào khu vực này.
Mặc dù mô hình này được đông đảo các nhà kinh tế và chuyên gia nghiên cứu về di cư chấp nhận, song điều này hoàn toàn Luận văn tốt nghiệp thạc sĩ kinh tế học 6 không đúng với trường hợp ở Việt Nam (ít nhất là ở Hà Nội và TP. HCM), nơi kiểm soát chặt chẽ việc nhập cư (thông qua quản lý hộ khẩu). - Khu vực KTPCT hoạt động tách rời, với rất ít những mối liên hệ trực tiếp với nền kinh tế chính thức. Nguyên nhân là do bộ phận khách hàng chủ yếu của những hộ SXKD phi chính thức này vẫn là các hộ gia đình (tiêu thụ 90% khối lượng cung cấp).
- Tác động của khủng hoảng là dấu hiệu cho thấy tính chất yếu thế của các hộ SXKD thuộc khu vực phi chính thức. Ảnh hưởng rõ rệt nhất là sự suy giảm các khoản tiền để dành và cắt giảm chi tiêu cho lương thực, thực phẩm. HCM – nơi chịu sự tác động nghiêm trọng hơn của cuộc khủng hoảng, 37% số hộ gia đình có hoạt động trong khu vực PCT đã phải cắt giảm chi tiêu cho lương thực – thực phẩm; tỷ trọng các hộ gia đình phải cắt giảm chi tiêu cho y tế là khá cao (17%). Đây chính là những dấu hiệu cho thấy rõ tính chất yếu thế hơn của khu vực PCT khi mà tỷ lệ này cao gần gấp 2 lần so với các hộ gia đình có hoạt động kinh doanh thuộc khu vực chính thức.2 Khái niệm về khu vực kinh tế phi chính thức Theo Ngân hàng Thế giới (WB, 2003), thế giới đang phổ biến một số tên gọi như: khu vực phi chính qui (Informal sector); kinh tế bóng đen (Shadow economy); kinh tế chìm (Underground economy); kinh tế không được giám sát (Non-observed economy; unobserved economy) v.
Dù tên gọi được dùng khác nhau, chung qui lại các khái niệm trên đều phản ánh bản chất các hoạt động kinh tế của một khu vực trái ngược với khu vực kinh tế chính thống và nó là một bộ phận rất quan trọng của nền kinh tế của mỗi quốc gia. Trong khuôn khổ bài viết này tác giả gọi là khu vực kinh tế phi chính thức. Khu vực kinh tế phi chính thức (KTPCT): Theo ILO (2006), KTPCT được hiểu ở đây sẽ gồm tất cả các hộ sản xuất kinh doanh chưa có tư cách pháp nhân, chưa đăng ký kinh doanh hoạt động trong lĩnh vực phi nông, lâm nghiệp, thủy sản nhưng vẫn sản xuất các hàng hóa dịch vụ để bán hoặc trao đổi trên thị trường. Theo Chính phủ (2007 và 2010), Nghị định 39/2007/NĐ-CP và 43/2010/NĐ-CP của Chính phủ qui định chi tiết về những trường hợp phải đăng kí kinh doanh và những trường hợp không phải đăng kí kinh doanh rất chi tiết.
Theo điều 2 Nghị định này, những trường hợp không phải đăng kí kinh doanh là “Cá nhân hoạt động thương mại là cá nhân tự mình hàng ngày thực hiện một, một số hoặc toàn bộ các hoạt động được pháp luật cho phép về mua bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ và các hoạt động Luận văn tốt nghiệp thạc sĩ kinh tế học 7 nhằm mục đích sinh lợi khác nhưng không thuộc đối tượng phải đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật về đăng ký kinh doanh và không gọi là “thương nhân” theo quy định của Luật Thương mại”. Cụ thể bao gồm những cá nhân thực hiện các hoạt động thương mại sau đây: (i) Buôn bán rong (buôn bán dạo) là các hoạt động mua, bán không có địa điểm cố định (mua rong, bán rong hoặc vừa mua rong vừa bán rong), bao gồm cả việc nhận sách báo, tạp chí, văn hóa phẩm của các thương nhân được phép kinh doanh các sản phẩm này theo quy định của pháp luật để bán rong; (ii) Buôn bán vặt là hoạt động mua bán những vật dụng nhỏ lẻ có hoặc không có địa điểm cố định; (iii) Bán quà vặt là hoạt động bán quà bánh, đồ ăn, nước uống (hàng nước) có hoặc không có địa điểm cố định; (iv) Buôn chuyến là hoạt động mua hàng hóa từ nơi khác về theo từng chuyến để bán cho người mua buôn hoặc người bán lẻ; (v) Thực hiện các dịch vụ: đánh giày, bán vé số, sửa khóa, sửa chữa xe, trông giữ xe, rửa xe, cắt tóc, vẽ tranh, chụp ảnh và các dịch vụ khác có hoặc không có địa điểm cố định; (vi) Các hoạt động thương mại một cách độc lập, thường xuyên không phải đăng ký kinh doanh khác. Trong khuôn khổ nghiên cứu này, những hoạt động kinh doanh không phải đăng kí kinh doanh được xem là kinh tế phi chính thức. Như vậy, khu vực kinh tế phi chính thức bao gồm nhiều nhóm doanh nghiệp/cơ sở kinh doanh không chính thức có nhiều hình thức khác nhau: Nhóm hộ gia đình tự kinh doanh không đăng kí kinh doanh nhưng hoạt động hợp pháp và nhóm hộ gia đình kinh doanh phải đăng kí kinh doanh theo qui định của pháp luật nhưng không đăng kí kinh doanh hoặc kê khai giảm để không đăng kí kinh doanh (ví dụ kê khai lao động dưới 10 lao động).
Khu vực kinh tế phi chính thức ở Thành Phố Hồ Chí Minh Rất năng động, linh hoạt và nhạy bén: Theo sự phát triển của nền kinh tế nói chung, các hoạt động trong khu vực kinh tế phi chính thức ngày càng phát triển và có xu hướng thay đổi nhanh, dễ thích ứng với sự thay đổi của môi trường kinh tế - xã hội. Ví dụ như: khi mạng và ngành công nghệ thông tin phát triển, có nhiều dịch vụ cho thuê máy tính, cửa hàng trò chơi, cửa hàng buôn bán các thiết bị,. phát triển nhanh Luận văn tốt nghiệp thạc sĩ kinh tế học 8 chóng. Do chi phí đầu tư ban đầu thấp, thời gian thu hồi vốn nhanh,.
nên khi thị trường có những biến động, khu vực này thay đổi dễ dàng và nhanh chóng.