Tổng quan luận án
Công tác giáo dục chính trị - tư tưởng (GDCT-TT) cho công nhân tại các khu công nghiệp (KCN) ở miền Đông Nam Bộ (ĐNB) là một bộ phận trọng yếu trong công tác tư tưởng (CTTT) của Đảng Cộng sản Việt Nam, hướng đến mục tiêu truyền bá hệ tư tưởng của giai cấp công nhân (GCCN), xác lập vị trí chủ đạo của chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh trong đời sống tinh thần của người lao động. Quá trình đổi mới gắn liền với sự phát triển của các KCN, khu chế xuất (KCX) tại địa bàn kinh tế trọng điểm phía Nam đã hình thành nên một bộ phận công nhân mới với số lượng ngày càng gia tăng. Tuy nhiên, hiệu quả của hoạt động GDCT-TT tại các KCN miền ĐNB bộc lộ nhiều điểm hạn chế: nhận thức của một bộ phận chủ thể còn xem nhẹ, coi đây là nhiệm vụ thuần túy của các cơ quan tuyên giáo; trình độ học vấn và nhận thức chính trị của một bộ phận công nhân chưa cao; nội dung tuyên truyền dàn trải, ôm đồm; phương thức và phương tiện chậm đổi mới; nguồn lực hạn hẹp nhưng chưa có cơ chế sử dụng tiết kiệm và hợp lý. Thực tế này dẫn đến việc một bộ phận công nhân thiếu bản lĩnh chính trị, dễ bị lôi kéo tham gia các vụ đình công, biểu tình tự phát, đập phá tài sản trái pháp luật.
Bên cạnh đó, việc Việt Nam tham gia các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới, tiêu biểu là Hiệp định Đối tác Toàn diện và Tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP) với những cam kết nghiêm ngặt về tiêu chuẩn lao động và tổ chức công đoàn độc lập, đặt ra yêu cầu cấp bách phải đánh giá thực chất và tối ưu hóa hiệu quả công tác GDCT-TT. Khoảng trống nghiên cứu được luận án chỉ ra là: cho đến nay chưa có công trình khoa học nào nghiên cứu trực tiếp, chuyên sâu và có hệ thống về hiệu quả công tác GDCT-TT cho công nhân KCN trên địa bàn miền ĐNB theo cách tiếp cận kết hợp giữa lý luận chính trị học và khảo sát thực chứng. Để giải quyết khoảng trống này, nghiên cứu sinh lựa chọn đề tài "Hiệu quả công tác giáo dục chính trị - tư tưởng cho công nhân các khu công nghiệp ở miền Đông Nam Bộ hiện nay" cho luận án tiến sĩ chuyên ngành Công tác tư tưởng thuộc ngành Chính trị học.
Mục đích nghiên cứu của đề tài là nâng cao hiệu quả công tác GDCT-TT cho công nhân các KCN ở miền ĐNB, góp phần xây dựng đội ngũ công nhân vững vàng về chính trị - tư tưởng. Để thực hiện mục đích trên, luận án giải quyết 4 nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể:
- Tổng quan những công trình nghiên cứu trong và ngoài nước có liên quan đến đề tài; nhận xét khái quát về kết quả đã nghiên cứu và đề ra các hướng nghiên cứu tiếp theo.
- Luận giải làm sáng tỏ những vấn đề lý luận cơ bản về hiệu quả công tác GDCT-TT cho công nhân các KCN.
- Khảo sát và đánh giá thực trạng hiệu quả công tác GDCT-TT cho công nhân các KCN ở miền ĐNB hiện nay.
- Xác định những vấn đề đặt ra và đề xuất một số giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao hiệu quả công tác GDCT-TT cho công nhân các KCN ở miền ĐNB trong những năm tiếp theo.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu được xác định rõ:
- Đối tượng nghiên cứu: Hiệu quả công tác GDCT-TT cho công nhân các KCN ở miền ĐNB.
- Phạm vi nội dung: Nghiên cứu công tác GDCT-TT cho công nhân làm việc trong các KCN và KCX tại các tỉnh, thành phố miền ĐNB.
- Phạm vi không gian: Khảo sát thực tế tại 03 tỉnh, thành phố tập trung đông công nhân KCN nhất vùng là Thành phố Hồ Chí Minh, tỉnh Đồng Nai và tỉnh Bình Dương.
- Phạm vi thời gian: Thu thập dữ liệu và đánh giá thực trạng trong giai đoạn từ năm 2014 đến năm 2018.
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Tổng quan tài liệu trong luận án được phân chia theo ba nhóm hướng nghiên cứu chính:
Hướng thứ nhất: Các công trình nghiên cứu về công tác giáo dục chính trị - tư tưởng nói chung. Ở nước ngoài, các công trình của Liên Xô trước đây tập trung làm rõ phương hướng và bản chất của giáo dục cộng sản chủ nghĩa, tiêu biểu là X.L. Xu-rơ-ni-tren-cô (chủ biên cuốn Hoạt động tư tưởng của ĐCS Liên Xô), D. Vôn-cô-gô-nốp (Phương pháp luận công tác giáo dục tư tưởng), A. Ru-mi-an-txép (chủ biên từ điển Chủ nghĩa cộng sản khoa học). Ở phương Tây, các nghiên cứu thường tiếp cận dưới góc độ kỹ thuật tuyên truyền chính trị, tiêu biểu là tài liệu về kỹ thuật tuyên truyền của Paul Joseph Goebbels hay bài viết Modern Political Propaganda của G. Stark. Tại Trung Quốc, thuật ngữ GDCT-TT (思想政治教育) được sử dụng phổ biến qua các công trình của Ban Tuyên huấn Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc (Công tác tuyên truyền tư tưởng trong thời kỳ mới), Hoàng Chí Bân (Phương pháp luận về GDCTTT đương đại), cùng định nghĩa trên Bách khoa toàn thư Baidu. Ở trong nước, cơ sở lý luận CTTT và GDCT-TT được phân tích qua các công trình của Lương Khắc Hiếu (Cơ sở lý luận CTTT của Đảng Cộng sản Việt Nam, Giáo trình Nguyên lý CTTT), Trần Thị Anh Đào (CTTT và vấn đề đào tạo cán bộ làm CTTT), Cao Xuân Trung (luận án về GDCT-TT cho quân nhân), Lương Ngọc Vĩnh (luận án về GDCT-TT trong học viện quân sự) và tài liệu bồi dưỡng của Ban Tuyên giáo Trung ương.
Hướng thứ hai: Các công trình nghiên cứu về công tác GDCT-TT cho công nhân. Các tác giả Trung Quốc như Lý Quần, Từ Trí, Tống Quảng Phát và tập thể tác giả cuốn Công tác xây dựng Đảng ở doanh nghiệp ngoài quốc doanh nhấn mạnh việc định hướng chính trị để xây dựng mối quan hệ hài hòa trong doanh nghiệp. Tại Việt Nam, nhiều nhà khoa học đã bàn luận về xây dựng bản lĩnh chính trị và tri thức hóa GCCN như Dương Xuân Ngọc (GCCN Việt Nam trong sự nghiệp CNH, HĐH đất nước), Nguyễn An Ninh (Về xu hướng công nhân ở nước ta hiện nay), Văn Tạo (Đổi mới tư duy về GCCN - Kinh tế tri thức và công nhân tri thức), Nguyễn Văn Giang (Đảng lãnh đạo GCCN trong giai đoạn hiện nay), Nguyễn Viết Vượng (GCCN và tổ chức công đoàn Việt Nam trong những năm đầu thế kỷ XXI), Bùi Kim Hậu (Trí thức hóa công nhân Việt Nam trong hội nhập kinh tế quốc tế hiện nay). Thực trạng tại địa phương được phân tích qua sách Công tác chính trị, tư tưởng trong GCCN Đồng Nai, bài viết của Vũ Thị Mai Oanh về kinh nghiệm tại TP. Hồ Chí Minh, hoặc nghiên cứu của Nguyễn An Ninh và Tô Văn Sơn về những bất cập trong công tác GDCT-TT tại các KCN, KCX.
Hướng thứ ba: Các nghiên cứu về khái niệm và tiêu chí đánh giá hiệu quả GDCT-TT. Khái niệm hiệu quả được các tác giả Liên Xô (Bưrôđanốp) và Trung Quốc (Tào Tổ Minh, Trần Đình, Vương Sa) xem xét như sự tương quan giữa kết quả và mục tiêu. Các học giả phương Tây như Josef Steindl, Richard Koch (ứng dụng nguyên lý 80/20 của Pareto), Francois Jullien (Bàn về tính hiệu quả) và André Chieng phân tích hiệu quả thông qua việc lựa chọn thời điểm và phương thức tác động. Tại Việt Nam, các công trình của Đào Duy Tùng (Một số vấn đề về CTTT, bài báo năm 1983 trên Tạp chí Xã hội học), Đào Duy Quát (Quản lý hoạt động tư tưởng - văn hóa, Về CTTT của Đảng Cộng sản Việt Nam), Hồ Văn Chiểu (Hồ Chí Minh với CTTT), Hà Học Hợi, Lương Khắc Hiếu, Trần Thị Anh Đào, Vũ Ngọc Am, Lương Ngọc Vĩnh đã từng bước xây dựng hệ thống quan niệm về hiệu quả CTTT: so sánh kết quả đạt được với mục đích xác định và chi phí nguồn lực đã bỏ ra.
| Hướng nghiên cứu | Tác giả tiêu biểu trong văn bản | Trọng tâm nội dung đã giải quyết |
|---|---|---|
| Lý luận chung về CTTT và GDCT-TT | X.L. Xu-rơ-ni-tren-cô, D. Vôn-cô-gô-nốp, Ban Tuyên huấn ĐCS Trung Quốc, Lương Khắc Hiếu, Trần Thị Anh Đào | Xác định bản chất, chức năng, nguyên lý truyền bá hệ tư tưởng và các hình thái cơ bản của CTTT. |
| GDCT-TT cho giai cấp công nhân | Tống Quảng Phát, Dương Xuân Ngọc, Nguyễn An Ninh, Văn Tạo, Nguyễn Văn Giang, Bùi Kim Hậu | Đề xuất giải pháp giác ngộ chính trị, bồi dưỡng tác phong công nghiệp và trí thức hóa công nhân. |
| Khái niệm và tiêu chí đánh giá hiệu quả | François Jullien, Đào Duy Tùng, Đào Duy Quát, Hồ Văn Chiểu, Lương Khắc Hiếu, Lương Ngọc Vĩnh | Phân tích mối quan hệ giữa kết quả, mục tiêu, mục đích và việc tối ưu hóa chi phí nguồn lực. |
Khoảng trống nghiên cứu luận án lựa chọn giải quyết là: phần lớn các công trình đi trước chỉ bàn luận về hiệu quả CTTT nói chung hoặc trong môi trường quân đội, cơ quan hành chính; các nghiên cứu về công nhân KCN chủ yếu dừng lại ở việc miêu tả thực trạng phong trào hoặc kiến nghị chung, chưa xây dựng được khung tiêu chí định lượng và định tính để đo lường tính hiệu quả của công tác GDCT-TT cho công nhân KCN dưới góc độ chuyên ngành Công tác tư tưởng.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Luận án dựa trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử, cùng các nguyên lý của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, các quan điểm, nghị quyết của Đảng Cộng sản Việt Nam về CTTT và xây dựng GCCN (đặc biệt là Nghị quyết Hội nghị Trung ương 6 khóa X). Khung khái niệm cốt lõi của đề tài được luận giải chặt chẽ:
- Thuật ngữ GDCT-TT: Tác giả phân tích ngữ pháp tiếng Việt và khẳng định việc viết "GDCT-TT" có dấu gạch ngang là chuẩn xác nhất, bởi "tư tưởng" là danh từ có ngoại diên rộng hơn, "chính trị" đóng vai trò tính từ khu biệt bản chất chính trị của tư tưởng, tránh sự tách rời đẳng lập (như khi dùng dấu phẩy "GDCT, TT") hoặc sai lệch ngữ nghĩa (khi viết liền "GDCTTT").
- Khái niệm công nhân KCN: Kế thừa định nghĩa GCCN của Nghị quyết Trung ương 6 khóa X và định nghĩa KCN tại Nghị định số 29/2008/NĐ-CP ngày 14-3-2008 của Chính phủ, luận án xác định: Công nhân các KCN là những người lao động chân tay và trí óc, làm công hưởng lương trong các loại hình chuyên sản xuất hàng công nghiệp và thực hiện các dịch vụ cho sản xuất công nghiệp trong khu vực có ranh giới địa lý xác định.
- Khái niệm hiệu quả công tác GDCT-TT: Luận án phân biệt rõ "hiệu quả GDCT-TT" (đo lường ở phía đối tượng thông qua sự biến chuyển nhận thức, niềm tin, hành vi) và "hiệu quả công tác GDCT-TT" (phải đánh giá đa chiều từ cả phía chủ thể lẫn đối tượng). Luận án phân định sự khác biệt giữa mục tiêu (Goals - các bước cụ thể) và mục đích (Objectives - đích đến cuối cùng), từ đó xác định hiệu quả là sự tương quan giữa kết quả đạt được so với mục đích đặt ra và chi phí nguồn lực (nhân lực, vật lực, thời gian) trong những điều kiện lịch sử - xã hội xác định.
Hệ thống phương pháp nghiên cứu cụ thể được triển khai bao gồm:
- Phương pháp phân tích và tổng hợp: Nghiên cứu các văn kiện, chỉ thị, nghị quyết của Đảng, chính sách của Nhà nước, báo cáo tổng kết của Ban Tuyên giáo và Liên đoàn Lao động các cấp tại TP. Hồ Chí Minh, Đồng Nai, Bình Dương.
- Phương pháp lôgic và lịch sử: Rà soát sự phát triển của các quan điểm lý luận về CTTT theo tiến trình thời gian và logic nội tại của vấn đề.
- Phương pháp thống kê, so sánh và quan sát: Tập hợp số liệu, so sánh tương quan giữa các nhóm công nhân khác nhau về độ tuổi, học vấn, quê quán; so sánh giữa đánh giá của chủ thể giáo dục và đối tượng tiếp nhận giáo dục tại 3 địa phương.
- Phương pháp tổng kết thực tiễn và nghiên cứu lý luận: Đúc kết kinh nghiệm thực tế từ các mô hình tuyên giáo cơ sở để bổ sung vào khung lý luận.
- Phương pháp điều tra xã hội học: Luận án thiết kế bảng hỏi và tiến hành khảo sát thực tế trên mẫu 600 phiếu đối với công nhân đang làm việc tại các KCN ở miền ĐNB. Bảng hỏi tập trung lượng hóa 4 nhóm chỉ số đánh giá hiệu quả: (1) Chỉ số về mức độ tiếp cận thông tin; (2) Chỉ số về nhận thức, kiến thức chính trị; (3) Chỉ số về thái độ, niềm tin chính trị; (4) Chỉ số về tính tích cực chính trị - xã hội trong hành động thực tế. Dữ liệu khảo sát được xử lý để làm căn cứ thực chứng cho chương 2.
Nội dung chính theo từng chương
Luận án có kết cấu gồm phần mở đầu, tổng quan tình hình nghiên cứu, 03 chương nội dung với 12 tiết, kết luận, phụ lục và danh mục tài liệu tham khảo.
Chương 1: Cơ sở lý luận về hiệu quả công tác giáo dục chính trị - tư tưởng cho công nhân các khu công nghiệp
Chương 1 tập trung xây dựng hệ thống cơ sở lý luận chuyên ngành về hiệu quả công tác GDCT-TT đối với nhóm đối tượng công nhân KCN:
- Phân tích các khái niệm nền tảng: tư tưởng, hệ tư tưởng, chính trị, công tác tư tưởng và cấu trúc 3 hình thái của CTTT (công tác lý luận gắn với sáng tạo hệ tư tưởng; công tác tuyên truyền gắn với truyền bá hệ tư tưởng; công tác cổ động gắn với vật chất hóa hệ tư tưởng). Khẳng định GDCT-TT là bộ phận cốt lõi của giáo dục tư tưởng.
- Xác định cấu trúc các yếu tố cấu thành công tác GDCT-TT cho công nhân KCN, bao gồm:
- Chủ thể và đối tượng: Chủ thể gồm hệ thống tổ chức (cấp ủy đảng, Ban Tuyên giáo, tổ chức công đoàn, đoàn thanh niên, chính quyền và người sử dụng lao động) và đội ngũ cán bộ trực tiếp (báo cáo viên, tuyên truyền viên); đối tượng là công nhân lao động trực tiếp trong KCN, KCX.
- Mục đích, mục tiêu và nội dung: Mục đích cao nhất là hình thành văn hóa chính trị XHCN, nâng cao bản lĩnh chính trị và tính tích cực xã hội. Nội dung gồm 5 thành tố: tri thức chính trị cơ bản (chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, pháp luật lao động); truyền thống chính trị dân tộc; lý tưởng GCCN; bản lĩnh đấu tranh chống mơ hồ chính trị; và khắc phục thói thờ ơ chính trị.
- Phương thức: Kết hợp giáo dục cá nhân, nhóm và đại chúng; thuyết trình, đối thoại, nêu gương; tổ chức lớp học tập trung, sinh hoạt thời sự, sinh hoạt tại khu nhà trọ, ký túc xá.
- Phương tiện: Sử dụng hệ thống trường chính trị, đội ngũ báo cáo viên, báo in, báo điện tử, phát thanh, truyền hình, internet và mạng xã hội.
- Hiệu quả: Phản ánh mức độ hoàn thành mục tiêu của chủ thể và mức độ chuyển biến của đối tượng gắn liền với tính kinh tế trong sử dụng nguồn lực.
- Xây dựng hệ thống tiêu chí đánh giá hiệu quả: Phân chia theo tiêu chuẩn tinh thần (nhận thức, niềm tin) và tiêu chuẩn thực tiễn (tính tích cực lao động sản xuất, chấp hành pháp luật, tham gia hoạt động đoàn thể); đánh giá việc phân bổ hợp lý các nguồn lực nhân lực, kinh phí và thời gian.
Chương 2: Thực trạng hiệu quả công tác giáo dục chính trị - tư tưởng cho công nhân các khu công nghiệp ở miền Đông Nam Bộ
Chương 2 trình bày kết quả khảo sát thực tế và phân tích thực trạng hiệu quả công tác GDCT-TT tại 03 tỉnh, thành phố: TP. Hồ Chí Minh, Đồng Nai và Bình Dương trong giai đoạn 2014 - 2018:
- Phân tích bối cảnh tự nhiên, kinh tế - xã hội vùng Đông Nam Bộ và các yếu tố chi phối công tác GDCT-TT, bao gồm sự đa dạng về thành phần sở hữu doanh nghiệp (doanh nghiệp FDI, tư nhân), áp lực thời gian làm việc ca kíp của công nhân và biến động dân cư nhập cư.
- Trình bày kết quả xử lý 600 phiếu điều tra xã hội học theo 4 nhóm chỉ số:
- Mức độ tiếp cận: Đánh giá tỷ lệ công nhân tiếp cận các kênh thông tin chính trị, các buổi tuyên truyền miệng, tài liệu của công đoàn và báo đài.
- Chuyển biến nhận thức, kiến thức: Đo lường mức độ hiểu biết về quyền lợi, nghĩa vụ theo Luật Lao động, hiểu biết về đường lối của Đảng và chính sách của Nhà nước.
- Thái độ và niềm tin chính trị: Ghi nhận tỷ lệ công nhân tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng, mức độ gắn bó với tổ chức công đoàn và sự an tâm lao động sản xuất.
- Tính tích cực chính trị - xã hội: Đánh giá sự tham gia của công nhân vào các phong trào thi đua, việc gia nhập Đảng, tổ chức công đoàn, cũng như tinh thần cảnh giác trước sự lôi kéo của các phần tử xấu.
- Chỉ rõ các mặt hạn chế và nguyên nhân thực trạng: Một bộ phận cấp ủy cơ sở chưa quan tâm đúng mức; cán bộ tuyên giáo kiêm nhiệm thiếu kỹ năng sư phạm chính trị; nội dung giáo dục nặng tính lý thuyết hàn lâm, chưa giải quyết trúng nhu cầu thiết thân của người lao động; việc bố trí kinh phí và thời gian còn bất cập, dẫn đến hiệu quả thu được chưa tương xứng với nguồn lực bỏ ra.
Chương 3: Những vấn đề đặt ra và giải pháp nâng cao hiệu quả công tác giáo dục chính trị - tư tưởng cho công nhân các khu công nghiệp ở miền Đông Nam Bộ hiện nay
Từ kết quả nghiên cứu lý luận và thực tiễn, Chương 3 xác định các yêu cầu mới và xây dựng hệ thống giải pháp:
- Luận giải 06 vấn đề lớn đang đặt ra đối với công tác GDCT-TT cho công nhân KCN miền ĐNB trong bối cảnh thực thi các cam kết quốc tế (như hiệp định CPTPP) và sự phát triển nhanh chóng của mạng xã hội.
- Đề xuất 06 nhóm giải pháp chủ yếu nâng cao hiệu quả trong những năm tiếp theo:
- Nâng cao nhận thức và trách nhiệm lãnh đạo của các cấp ủy đảng, chính quyền, sự phối hợp của các đoàn thể và chủ doanh nghiệp đối với công tác GDCT-TT.
- Đổi mới căn bản nội dung giáo dục chính trị - tư tưởng theo hướng thiết thực, tinh gọn, bám sát quyền lợi, nghĩa vụ và đời sống của công nhân KCN.
- Đa dạng hóa phương pháp, hình thức giáo dục; khai thác các nền tảng truyền thông hiện đại, internet, mạng xã hội; đưa hoạt động giáo dục về tận khu nhà trọ, ký túc xá công nhân.
- Kiện toàn, đào tạo, bồi dưỡng nâng cao trình độ, năng lực và kỹ năng vận động công nhân cho đội ngũ chủ thể làm công tác tuyên giáo, công đoàn tại cơ sở.
- Quy hoạch, huy động và quản lý sử dụng tiết kiệm, hiệu quả các nguồn lực vật chất, kinh phí, thiết chế văn hóa phục vụ công tác GDCT-TT.
- Xây dựng môi trường xã hội lành mạnh, nâng cao đời sống văn hóa tinh thần, hỗ trợ pháp lý và bảo vệ quyền lợi chính đáng nhằm tạo nền tảng nâng cao tính tích cực chính trị của công nhân.
| Cấu trúc luận án | Tên nội dung các chương | Nhiệm vụ khoa học trọng tâm |
|---|---|---|
| Chương 1 | Cơ sở lý luận về hiệu quả công tác GDCT-TT cho công nhân các KCN | Làm rõ khung khái niệm, cấu trúc các yếu tố cấu thành và tiêu chí đánh giá hiệu quả kết hợp giữa mục đích và chi phí nguồn lực. |
| Chương 2 | Thực trạng hiệu quả công tác GDCT-TT cho công nhân các KCN ở miền ĐNB | Xử lý dữ liệu khảo sát 600 phiếu tại TP.HCM, Đồng Nai, Bình Dương giai đoạn 2014-2018; chỉ ra các thành quả và hạn chế. |
| Chương 3 | Những vấn đề đặt ra và giải pháp nâng cao hiệu quả công tác GDCT-TT cho công nhân các KCN ở miền ĐNB hiện nay | Xác định 06 vấn đề đặt ra và luận giải 06 nhóm giải pháp đồng bộ nhằm tối ưu hóa hiệu quả thực hiện trong thời gian tới. |
Kết quả và những đóng góp mới
Luận án công bố các đóng góp mới về mặt lý luận và thực tiễn:
- Đóng góp về mặt lý luận:
- Góp phần làm rõ và chuẩn hóa các khái niệm học thuật: tư tưởng, hệ tư tưởng, chính trị, công tác GDCT-TT, công nhân các KCN và công nhân KCN tại miền ĐNB; phân tích sâu cơ sở ngôn ngữ học của việc chuẩn hóa thuật ngữ "GDCT-TT" có dấu gạch ngang.
- Bổ sung và hoàn thiện quan niệm về hiệu quả công tác GDCT-TT: khẳng định hiệu quả là sự tương quan giữa kết quả đạt được so với mục đích đặt ra và việc sử dụng hợp lý, tiết kiệm các nguồn lực trong điều kiện cụ thể. Khái niệm này phân biệt rõ giữa hiệu quả của bản thân hoạt động giáo dục (đo ở đối tượng) với hiệu quả công tác quản lý giáo dục (đo cả từ chủ thể và chi phí).
- Cụ thể hóa bộ tiêu chí đánh giá hiệu quả công tác GDCT-TT áp dụng riêng cho đối tượng đặc thù là công nhân làm việc tại các KCN, KCX.
- Đóng góp về mặt thực tiễn:
- Cung cấp bức tranh thực chứng toàn diện về thực trạng nhận thức, thái độ, niềm tin và hành vi chính trị của công nhân tại 3 địa bàn trọng điểm (TP. Hồ Chí Minh, Đồng Nai, Bình Dương) thông qua việc lượng hóa các chỉ số từ 600 phiếu khảo sát.
- Nhận diện 06 vấn đề cốt lõi đặt ra đối với công tác tư tưởng trong bối cảnh Việt Nam tham gia hiệp định thương mại tự do thế hệ mới CPTPP.
- Xây dựng hệ thống 06 nhóm giải pháp có tính khả thi, định hướng đổi mới phương thức tuyên truyền và cơ chế sử dụng nguồn lực nhằm nâng cao hiệu quả công tác GDCT-TT cho công nhân KCN miền ĐNB.
Về mặt ứng dụng, kết quả của luận án là luận cứ khoa học phục vụ công tác lãnh đạo, chỉ đạo của Ban Tuyên giáo Trung ương, các Tỉnh ủy, Thành ủy, Ủy ban nhân dân và Liên đoàn Lao động các tỉnh, thành phố miền ĐNB trong việc xây dựng kế hoạch GDCT-TT định kỳ cho công nhân KCN.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Căn cứ theo giới hạn phạm vi nghiên cứu được tác giả trình bày trong văn bản:
- Hạn chế: Khảo sát thực chứng của luận án mới chỉ tập trung tại 03 tỉnh, thành phố (TP. Hồ Chí Minh, Đồng Nai, Bình Dương) trong tổng thể các tỉnh miền Đông Nam Bộ; phạm vi thời gian thu thập số liệu dừng lại ở giai đoạn 2014 - 2018, chưa phản ánh đầy đủ tác động thực tế của hiệp định CPTPP sau khi chính thức có hiệu lực thi hành đối với tổ chức công đoàn và phong trào công nhân tại Việt Nam.
- Hướng nghiên cứu tiếp: Tiếp tục mở rộng phạm vi khảo sát thực chứng sang các tỉnh còn lại của vùng Đông Nam Bộ (như Bà Rịa - Vũng Tàu, Tây Ninh, Bình Phước) và các vùng kinh tế trọng điểm khác; cập nhật đánh giá số liệu sau năm 2018 khi các quy định pháp luật lao động sửa đổi và các cam kết công đoàn trong CPTPP đi vào thực tế.
Giá trị tham khảo
Luận án mang lại giá trị tham khảo thiết thực cho nhiều nhóm đối tượng:
- Cán bộ tuyên giáo, tổ chức công đoàn và đoàn thể cơ sở: Tham khảo trực tiếp 06 nhóm giải pháp và các hình thức tuyên truyền linh hoạt (tổ chức tại khu nhà trọ, ký túc xá, ứng dụng mạng xã hội) để áp dụng vào thực tế vận động công nhân tại doanh nghiệp.
- Nhà hoạch định chính sách và cơ quan quản lý: Sử dụng hệ thống 4 nhóm chỉ số đánh giá hiệu quả (tiếp cận, nhận thức, niềm tin, tính tích cực xã hội) làm công cụ thẩm định chất lượng các đề án, chương trình tuyên giáo dành cho người lao động KCN.
- Giảng viên, nghiên cứu sinh và học viên ngành Chính trị học, Công tác tư tưởng: Tham khảo khung lý thuyết về tương quan kết quả - mục đích - chi phí, phương pháp luận nghiên cứu kết hợp định tính với điều tra xã hội học định lượng trong đánh giá hiệu quả CTTT.
Câu hỏi thường gặp
1. Vì sao luận án khẳng định sử dụng ký hiệu "GDCT-TT" có dấu gạch ngang là chuẩn xác nhất?
Luận án căn cứ vào trật tự từ trong tiếng Việt: từ có ngoại diên rộng đứng trước từ có ngoại diên hẹp. "Tư tưởng" có ngoại diên rộng hơn "chính trị", do đó nếu viết "GDCTTT" không dấu gạch ngang sẽ vi phạm nguyên tắc này. Nếu viết "GDCT, TT" có dấu phẩy thì biểu thị hai yếu tố đẳng lập ngang hàng, tách rời nhau. Sử dụng "GDCT-TT" có dấu gạch ngang xác định "tư tưởng" là danh từ chính, "chính trị" là tính từ làm rõ nghĩa, biểu đạt chính xác nội hàm giáo dục mặt chính trị của tư tưởng.
2. Khái niệm hiệu quả công tác GDCT-TT được luận án định nghĩa như thế nào?
Luận án định nghĩa: Hiệu quả công tác GDCT-TT là sự tương quan giữa kết quả đạt được (về nâng cao nhận thức chính trị, xây dựng niềm tin, phát huy tính tích cực chính trị - xã hội của đối tượng) so với mục đích đã đề ra và việc sử dụng hợp lý, tiết kiệm các nguồn lực (nhân lực, kinh phí, thời gian, cơ sở vật chất) trong những điều kiện lịch sử - xã hội cụ thể.
3. Khảo sát thực tế của đề tài được thực hiện trên quy mô và địa bàn nào?
Luận án tiến hành điều tra xã hội học bằng bảng hỏi trên quy mô 600 phiếu khảo sát đối với công nhân đang làm việc tại các KCN, KCX trên địa bàn 03 tỉnh, thành phố thuộc miền Đông Nam Bộ là Thành phố Hồ Chí Minh, tỉnh Đồng Nai và tỉnh Bình Dương, trong khoảng thời gian từ năm 2014 đến năm 2018.
4. Bối cảnh quốc tế nào được luận án nhấn mạnh làm tăng tính cấp thiết của đề tài?
Luận án nhấn mạnh bối cảnh Việt Nam tham gia các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới, tiêu biểu là Hiệp định Đối tác Toàn diện và Tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP), với những cam kết nghiêm ngặt liên quan đến tiêu chuẩn lao động quốc tế và quyền thành lập tổ chức của người lao động tại doanh nghiệp, đòi hỏi công tác GDCT-TT phải nâng cao thực chất hiệu quả để định hướng tư tưởng cho công nhân.
5. Luận án đề xuất bao nhiêu vấn đề đặt ra và nhóm giải pháp chủ yếu?
Dựa trên kết quả phân tích lý luận và đánh giá thực trạng, luận án xác định 06 vấn đề đặt ra và xây dựng hệ thống 06 nhóm giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao hiệu quả công tác GDCT-TT cho công nhân các KCN ở miền Đông Nam Bộ trong giai đoạn tiếp theo.
Kết luận
Luận án tiến sĩ Chính trị học chuyên ngành Công tác tư tưởng của tác giả đã giải quyết một cách có hệ thống vấn đề hiệu quả công tác GDCT-TT cho công nhân KCN ở miền Đông Nam Bộ. Bằng việc kết hợp phương pháp luận Mác - Lênin với điều tra xã hội học 600 phiếu tại TP. Hồ Chí Minh, Đồng Nai và Bình Dương giai đoạn 2014 - 2018, công trình đã làm sáng tỏ khung tiêu chí đánh giá hiệu quả dựa trên tương quan giữa kết quả, mục đích và chi phí nguồn lực. Các phát hiện thực trạng và hệ thống 06 nhóm giải pháp được đề xuất trong luận án cung cấp luận cứ khoa học có giá trị ứng dụng trực tiếp cho các cơ quan tuyên giáo và tổ chức công đoàn các cấp.