Tổng quan luận án
Luận án tiến sĩ chuyên ngành Triết học (mã số và chuyên ngành định hướng theo Triết học Mác - Lênin, Nhận thức luận) mang tên đề tài: "Nâng cao năng lực tư duy lý luận của đội ngũ cán bộ người dân tộc thiểu số ở tỉnh Tuyên Quang hiện nay". Công trình thuộc loại hình nghiên cứu định tính, sử dụng phương pháp luận triết học mác-xít để mổ xẻ một vấn đề lý luận và thực tiễn trong công tác cán bộ tại địa phương miền núi phía Bắc.
Về tính cấp thiết, tác giả xuất phát từ quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh về vị trí của người cán bộ là cầu nối giữa Đảng, Nhà nước với nhân dân, là người trực tiếp tổ chức đưa đường lối, chính sách vào đời sống. Trong bối cảnh công cuộc đổi mới, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế, đội ngũ cán bộ phải đối mặt với nhiều diễn biến phức tạp, các âm mưu diễn biến hòa bình, xuyên tạc hệ tư tưởng và chia rẽ khối đại đoàn kết dân tộc. Thực tiễn lãnh đạo cho thấy giữa lý luận và thực tiễn vẫn tồn tại khoảng cách; tình trạng giáo điều, sách vở, hành động không nhất quán với tư tưởng vẫn xảy ra ở nhiều nơi, làm sai lệch chủ trương, chính sách. Tuyên Quang là tỉnh miền núi phía Bắc với đa số dân cư là đồng bào dân tộc thiểu số. Đội ngũ cán bộ người dân tộc thiểu số tại đây bộc lộ nhiều hạn chế về nhận thức lý luận: suy nghĩ và làm việc nặng về thói quen, kinh nghiệm, cảm tính, trực quan; khả năng dự báo, đánh giá tình hình chưa cao; xử lý công việc còn máy móc, chưa tổng kết được thực tiễn thành lý luận. Xuất phát từ thực tế đó và kinh nghiệm công tác của bản thân tác giả tại cơ sở, đề tài được xác lập nhằm giải quyết yêu cầu cấp bách của địa phương.
Mục tiêu nghiên cứu tổng quát của luận án là làm sáng tỏ những vấn đề lý luận về nâng cao năng lực tư duy lý luận của đội ngũ cán bộ người dân tộc thiểu số ở Việt Nam; khảo sát, phân tích thực trạng năng lực tư duy lý luận của đội ngũ này tại tỉnh Tuyên Quang; từ đó xác định các quan điểm chỉ đạo và đề xuất hệ thống giải pháp cơ bản nhằm nâng cao năng lực tư duy lý luận cho họ.
Nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể được đánh số theo văn bản luận án gồm:
- Làm rõ phạm trù năng lực tư duy lý luận, các yếu tố ảnh hưởng và vai trò của năng lực tư duy lý luận đối với đội ngũ cán bộ người dân tộc thiểu số ở tỉnh Tuyên Quang trong giai đoạn hiện nay.
- Phân tích thực trạng năng lực tư duy lý luận của đội ngũ cán bộ người dân tộc thiểu số ở tỉnh Tuyên Quang hiện nay, chỉ ra nguyên nhân của thực trạng và những vấn đề đặt ra từ thực tiễn.
- Đề xuất các phương hướng và giải pháp cơ bản nhằm nâng cao năng lực tư duy lý luận của đội ngũ cán bộ người dân tộc thiểu số ở tỉnh Tuyên Quang hiện nay.
Đối tượng nghiên cứu của luận án là thực trạng năng lực tư duy lý luận của đội ngũ cán bộ người dân tộc thiểu số ở tỉnh Tuyên Quang hiện nay cùng những vấn đề mang tính phương pháp luận và giải pháp cần thiết nhằm nâng cao năng lực này.
Phạm vi nghiên cứu được xác định rõ ràng:
- Về không gian và đối tượng: Đội ngũ cán bộ là người dân tộc thiểu số đang công tác trong hệ thống chính trị tại tỉnh Tuyên Quang.
- Về thời gian: Các tư liệu, số liệu khảo sát, báo cáo tổng kết phục vụ nghiên cứu được thu thập chủ yếu từ năm 2010 đến thời điểm thực hiện luận án.
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Tổng quan tình hình nghiên cứu trong luận án được phân chia thành ba nhóm hướng nghiên cứu chính với các tác giả và công trình cụ thể:
Nhóm thứ nhất bao gồm các công trình nghiên cứu chung về tư duy, tư duy biện chứng và năng lực tư duy lý luận. Tiêu biểu là các tác phẩm: Đào Duy Tùng (1986) với tác phẩm "Bàn về đổi mới tư duy" (Nxb Sự thật); Hồ Văn Thông (1987) với bài viết "Một số vấn đề tư duy và đổi mới tư duy hiện nay ở nước ta" (Tạp chí Cộng sản); Nguyễn Ngọc Long (1987) nghiên cứu "Năng lực tư duy lý luận trong quá trình đổi mới tư duy" (Tạp chí Cộng sản); Tổng Bí thư Nguyễn Văn Linh (1987) với tác phẩm "Đổi mới tư duy và phong cách tư duy" (Nxb Sự thật); Nguyễn Bá Dương (1991) khảo cứu "Về đặc trưng của tư duy biện chứng duy vật" (Tạp chí Triết học); Lê Hữu Nghĩa và Phạm Duy Hải (1998) nghiên cứu "Tư duy khoa học trong giai đoạn cách mạng khoa học - công nghệ" (Nxb Chính trị quốc gia); Trần Đình Thoả (2002) với bài báo "Một số vấn đề tư duy biện chứng mác xít" (Tạp chí Triết học); Lê Doãn Tá và Vũ Trọng Dung (2003) với "Giáo trình Triết học Mác-Lênin" (Nxb Chính trị quốc gia); Đoàn Thế Hùng (2004) qua luận văn thạc sĩ "Tìm hiểu sự hình thành tư duy biện chứng mácxít"; Nguyễn Mạnh Cương (2004) viết về "Về bản chất tư duy" (Tạp chí Triết học); Đinh Ngọc Thạch (2004) trong sách của Nguyễn Trọng Chuẩn chủ biên bàn về việc phát triển hoàn thiện tư duy lý luận; cụm công trình của Tô Huy Rứa, Hoàng Chí Bảo, Trần Khắc Viện, Lê Ngọc Tòng (2006) về "Quá trình đổi mới tư duy lý luận của Đảng từ 1986 đến nay"; Lê Văn Quang (2006) làm rõ "Vai trò của Triết học Mác-Lênin trong đổi mới tư duy lý luận ở Việt Nam hiện nay"; Dương Phú Hiệp (2008) với tập sách "Triết học và đổi mới"; đề tài cấp Nhà nước của Nguyễn Ngọc Hà (2011) về đặc điểm tư duy, lối sống con người Việt Nam; và Nguyễn Trọng Phúc (2011) với công trình "Hồ Chí Minh từ hoạt động thực tiễn đến tư duy lý luận".
Nhóm thứ hai bao gồm các công trình nghiên cứu về người dân tộc thiểu số và cán bộ người dân tộc thiểu số. Tiêu biểu có: Nguyễn Phú Trọng và Trần Xuân Sầm (2001) với tác phẩm "Luận cứ khoa học cho việc nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa"; Bế Trường Thành, Phan Hữu Dật, Lê Ngọc Thắng (2002) nghiên cứu "Vấn đề dân tộc và định hướng xây dựng chính sách dân tộc trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa"; Lê Ngọc Thắng (2002) đánh giá "Chính sách dân tộc trong chiến lược Đại đoàn kết toàn dân của Đảng ta"; luận án tiến sĩ của Trịnh Quang Cảnh (2002) về "Trí thức người dân tộc thiểu số ở Việt Nam trong công cuộc đổi mới"; cụm tác giả Lê Phương Thảo, Nguyễn Cúc, Doãn Hùng (2006) đồng chủ biên sách "Xây dựng đội ngũ cán bộ dân tộc Việt Nam trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa - Luận cứ và giải pháp"; luận văn thạc sĩ của Lường Thị Pó (2007) khảo sát tại Điện Biên; luận án tiến sĩ của Lê Quang Trung (2008) về cán bộ chủ chốt cấp cơ sở vùng dân tộc thiểu số miền núi phía Bắc; Lô Quốc Toản (2010) với chuyên khảo "Phát triển nguồn cán bộ dân tộc thiểu số ở các tỉnh miền núi phía Bắc nước ta hiện nay"; và Trương Thị Thu Hà (2010) nghiên cứu nguồn nhân lực trẻ các dân tộc thiểu số tại tỉnh Tuyên Quang.
Nhóm thứ ba tập trung vào thực trạng và giải pháp nâng cao năng lực tư duy lý luận theo từng nhóm đối tượng cụ thể: Hồ Bá Thâm (1994, 2002) nghiên cứu về cán bộ chủ chốt cấp xã và cán bộ lãnh đạo; Nguyễn Đình Trãi (2001) nghiên cứu cán bộ giảng viên lý luận Mác - Lênin ở các trường chính trị tỉnh; Nguyễn Thị Bích Thủy (2001) nghiên cứu cán bộ lãnh đạo kinh tế; đề tài nghiên cứu cấp bộ của Trần Thành (2002, 2003) về cán bộ lãnh đạo, quản lý cấp tỉnh; Dương Minh Đức (2006) nghiên cứu cán bộ lãnh đạo cấp tỉnh vùng đồng bằng sông Hồng; Trần Thiên Tú (2006) nghiên cứu thực tế tại Quảng Trị; Vũ Văn Viên (2007) phân tích năng lực tư duy khoa học của cán bộ lãnh đạo; Nguyễn Đức Quyền (2010) nghiên cứu đội ngũ cán bộ chủ chốt tại tỉnh Lạng Sơn.
| Hướng nghiên cứu |
Tác giả tiêu biểu |
Trọng tâm nghiên cứu đã công bố |
| Bản chất tư duy, tư duy biện chứng và tư duy lý luận |
Đào Duy Tùng (1986), Nguyễn Văn Linh (1987), Lê Hữu Nghĩa (1998), Tô Huy Rứa (2006), Dương Phú Hiệp (2008) |
Bản chất nhận thức luận, đặc trưng tư duy biện chứng duy vật, quá trình đổi mới tư duy của Đảng qua các thời kỳ. |
| Người dân tộc thiểu số và cán bộ dân tộc thiểu số |
Nguyễn Phú Trọng (2001), Bế Trường Thành (2002), Trịnh Quang Cảnh (2002), Lê Quang Trung (2008), Lô Quốc Toản (2010) |
Vị trí chiến lược vùng dân tộc thiểu số, chính sách dân tộc, xây dựng và phát triển nguồn nhân lực cán bộ dân tộc thiểu số miền núi phía Bắc. |
| Thực trạng và giải pháp nâng cao năng lực tư duy lý luận |
Hồ Bá Thâm (1994), Nguyễn Đình Trãi (2001), Trần Thành (2002), Dương Minh Đức (2006), Nguyễn Đức Quyền (2010) |
Năng lực tư duy lý luận của các nhóm: cán bộ cấp xã, giảng viên trường chính trị, cán bộ quản lý cấp tỉnh tại ĐB Sông Hồng, Quảng Trị, Lạng Sơn. |
Khoảng trống nghiên cứu được luận án lựa chọn: Mặc dù các công trình trước đã tạo nên hệ thống tri thức đa diện về tư duy lý luận và công tác cán bộ vùng đồng bào dân tộc thiểu số, nhưng chưa có công trình nào đi sâu nghiên cứu một cách chuyên biệt, có hệ thống về năng lực tư duy lý luận của đội ngũ cán bộ người dân tộc thiểu số trên địa bàn cụ thể là tỉnh Tuyên Quang. Luận án giải quyết khoảng trống này bằng cách: bổ sung góc nhìn nhận thức luận mác-xít về tư duy lý luận; làm sáng tỏ nội hàm và thực chất việc nâng cao năng lực tư duy lý luận của cán bộ người dân tộc thiểu số; phân tích thực trạng gắn với điều kiện kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội đặc thù của Tuyên Quang để xây dựng hệ thống giải pháp phù hợp với thực tiễn địa phương.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Về cơ sở lý luận, luận án dựa trên lập trường phương pháp luận của Chủ nghĩa duy vật biện chứng và Chủ nghĩa duy vật lịch sử, trực tiếp là lý luận nhận thức (nhận thức luận mác-xít) và lôgíc học biện chứng. Nghiên cứu cũng căn cứ vào tư tưởng Hồ Chí Minh về công tác cán bộ và các nghị quyết, chỉ thị, văn kiện của Đảng Cộng sản Việt Nam về vai trò của công tác lý luận, đổi mới tư duy trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.
Luận án phân tích rành mạch các khái niệm cốt lõi theo nhận thức luận:
- Ý thức: Là vật chất được di chuyển vào bộ óc con người và được cải biến đi; là hình ảnh chủ quan của thế giới khách quan, mang bản chất xã hội và nảy sinh từ hoạt động thực tiễn.
- Nhận thức: Quá trình phản ánh tích cực, sáng tạo hiện thực khách quan vào bộ não người trên cơ sở thực tiễn lịch sử - xã hội, vận động theo quy luật từ trực quan sinh động đến tư duy trừu tượng và từ tư duy trừu tượng đến thực tiễn.
- Tư duy: Trình độ cao của quá trình nhận thức nảy sinh từ nhận thức cảm tính, là sự phản ánh gián tiếp và khái quát các mối liên hệ bản chất, tính quy luật của sự vật khách quan thông qua hệ thống ngôn ngữ, khái niệm, phán đoán và suy lý.
- Tư duy kinh nghiệm so với tư duy lý luận: Tư duy kinh nghiệm phản ánh bề ngoài, rời rạc, cục bộ dựa trên quan sát trực tiếp, không chứng minh được tính tất yếu. Ngược lại, tư duy lý luận phản ánh ở cấp độ trừu tượng hóa, khái quát hóa cao, sản sinh tri thức mới có tính định hướng và chỉ đạo thực tiễn. Tư duy lý luận có bốn đặc trưng: tính khoa học; tính sáng tạo; biết sử dụng tự giác bộ công cụ nhận thức lý tính (khái niệm, phạm trù, quy luật); gắn liền với thực tiễn và chỉ đạo thực tiễn.
- Năng lực tư duy lý luận: Luận án kế thừa và tổng hợp quan niệm của các tác giả Nguyễn Đình Trãi, Nguyễn Văn Dũng, Hồ Bá Thâm để xác định: Năng lực tư duy lý luận là tổng hợp các phẩm chất trí tuệ của chủ thể nhất định, đáp ứng yêu cầu phát hiện, nhận thức đúng đắn bản chất, quy luật của sự vật, hiện tượng, quá trình ở trình độ lý luận nhanh, nhạy bén, sáng tạo và có những dự báo, đề xuất thiết thực góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động nhận thức và hoạt động thực tiễn của con người.
Luận án xác định năm yếu tố ảnh hưởng trực tiếp đến năng lực tư duy lý luận:
- Yếu tố thể chất bẩm sinh, di truyền và tố chất thần kinh của chủ thể nhận thức.
- Quá trình giáo dục, đào tạo, học tập và tự rèn luyện nâng cao trình độ tri thức, lý luận (giữ vai trò chủ đạo và quyết định trực tiếp).
- Môi trường kinh tế - xã hội, nền tảng văn hóa, khoa học và công nghệ của thời đại.
- Hoạt động thực tiễn của con người (cơ sở trực tiếp nhất, động lực chủ yếu của tư duy).
- Nhu cầu, lợi ích vật chất và tinh thần (yếu tố quy định động cơ, thái độ rèn luyện tư duy).
Về phương pháp nghiên cứu, đề tài vận dụng các phương pháp định tính và phương pháp nghiên cứu liên ngành trong khoa học xã hội:
- Phương pháp phân tích và tổng hợp lý thuyết để làm rõ hệ thống khái niệm, phạm trù.
- Phương pháp thống nhất giữa lôgíc và lịch sử để theo dõi quá trình phát triển nhận thức và biến đổi của đội ngũ cán bộ.
- Phương pháp thống kê mô tả, tổng hợp dữ liệu thứ cấp từ các báo cáo công tác cán bộ, tổng kết hàng năm của Tỉnh ủy, Ủy ban nhân dân và các cấp ủy Đảng, chính quyền từ cấp tỉnh đến cấp xã thuộc tỉnh Tuyên Quang từ năm 2010 đến nay.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu
Chương 1 hệ thống hóa và phân loại các công trình khoa học trong nước thành ba mảng nội dung chính: vấn đề tư duy và năng lực tư duy lý luận; vấn đề người dân tộc thiểu số và phát triển đội ngũ cán bộ dân tộc thiểu số; thực trạng và giải pháp nâng cao năng lực tư duy lý luận ở các nhóm cán bộ, đảng viên cụ thể. Trên cơ sở điểm luận, tác giả khẳng định hầu hết các nghiên cứu trước đây đã chứng minh rõ tầm quan trọng của triết học mác-xít và tư duy lý luận đối với sự nghiệp đổi mới, đồng thời nhấn mạnh vai trò cầu nối của cán bộ dân tộc thiểu số. Tuy nhiên, các công trình khảo sát thực trạng năng lực tư duy lý luận chủ yếu hướng vào cán bộ cấp tỉnh nói chung, giảng viên lý luận, cán bộ cấp xã hoặc cán bộ tại các địa bàn như Đồng bằng sông Hồng, Quảng Trị, Lạng Sơn. Chương 1 làm rõ luận điểm: Chưa có công trình nào nghiên cứu toàn diện, độc lập về năng lực tư duy lý luận của đội ngũ cán bộ người dân tộc thiểu số tại tỉnh Tuyên Quang. Do đó, chương này xác định rõ ba vấn đề luận án tập trung giải quyết: bổ sung lý luận nhận thức về năng lực tư duy lý luận của cán bộ dân tộc thiểu số; phân tích thực trạng đặc thù tại Tuyên Quang; đề xuất giải pháp sát hợp với điều kiện thực tế của tỉnh.
Chương 2: Năng lực tư duy lý luận và vai trò việc nâng cao năng lực tư duy lý luận của đội ngũ cán bộ người dân tộc thiểu số ở Việt Nam hiện nay
Chương 2 giải quyết cơ sở lý luận của đề tài thông qua hai nội dung lớn:
Thứ nhất, phân tích nhận thức luận về tư duy lý luận và năng lực tư duy lý luận. Tác giả phân định ranh giới giữa ý thức, nhận thức và tư duy; chỉ ra hạn chế của tư duy kinh nghiệm thuần túy và làm rõ bản chất của tư duy lý luận. Năng lực tư duy lý luận được phân tích ở các khả năng thao tác hóa: phân tích, tổng hợp, trừu tượng hóa, khái quát hóa, dự báo khoa học và đối tượng hóa tri thức vào thực tiễn. Chương này luận giải chi tiết năm nhân tố cấu thành và chi phối năng lực tư duy lý luận (bẩm sinh di truyền; giáo dục đào tạo; môi trường kinh tế - xã hội; hoạt động thực tiễn; nhu cầu và lợi ích).
Thứ hai, làm rõ đặc trưng của đội ngũ cán bộ người dân tộc thiểu số ở Việt Nam và xác định thực chất, vai trò của việc nâng cao năng lực tư duy lý luận đối với họ. Luận điểm cốt lõi là việc nâng cao năng lực tư duy lý luận cho cán bộ dân tộc thiểu số thực chất là quá trình chuyển hóa tri thức lý luận mác-xít, chủ trương, đường lối của Đảng thành thế giới quan, phương pháp luận khoa học, khắc phục lối suy nghĩ kinh nghiệm chủ nghĩa, cảm tính để nâng cao năng lực lãnh đạo, quản lý và tổ chức thực tiễn tại vùng đồng bào thiểu số.
Chương 3: Thực trạng năng lực tư duy lý luận của đội ngũ cán bộ người dân tộc thiểu số ở tỉnh Tuyên Quang hiện nay
Chương 3 trình bày các đặc điểm địa bàn và đánh giá năng lực tư duy lý luận của cán bộ dân tộc thiểu số tại Tuyên Quang:
Phần khái quát chỉ ra Tuyên Quang là địa bàn cư trú của nhiều dân tộc thiểu số, điều kiện kinh tế - xã hội còn nhiều khó khăn, hạ tầng cơ sở và trình độ dân trí có mặt chưa đồng đều. Đội ngũ cán bộ người dân tộc thiểu số của tỉnh có ưu điểm lớn là am hiểu sâu sắc phong tục tập quán, gắn bó mật thiết với nhân dân địa phương, nhiệt tình công tác và trung thành với mục tiêu của Đảng.
Đánh giá thực trạng năng lực tư duy lý luận cho thấy:
- Ưu điểm: Đa số cán bộ đã được đào tạo, bồi dưỡng qua các chương trình lý luận chính trị và chuyên môn; từng bước hình thành nhận thức đúng đắn về quan điểm đổi mới của Đảng, có ý thức áp dụng nghị quyết vào công tác thực tế tại địa bàn.
- Hạn chế: Năng lực trừu tượng hóa, khái quát hóa còn yếu; tư duy còn nặng tính kinh nghiệm, giáo điều, trực quan, giải quyết công việc theo thói quen cũ; khả năng phân tích bản chất, dự báo tình hình và nắm bắt thông tin mới chưa nhanh nhạy; một bộ phận cán bộ lúng túng khi thể chế hóa và cụ thể hóa các chỉ thị, nghị quyết của cấp trên vào điều kiện cụ thể của địa phương.
- Nguyên nhân: Xuất phát điểm kinh tế - xã hội của tỉnh thấp; tập quán sản xuất lạc hậu chi phối nếp nghĩ; công tác đào tạo, bồi dưỡng lý luận có lúc còn nặng tính hình thức, chưa gắn chặt với đặc thù đối tượng đồng bào dân tộc thiểu số; bản thân một số cán bộ chưa có ý thức tự học tập, tự rèn luyện thường xuyên.
Chương 4: Quan điểm và một số giải pháp cơ bản nhằm nâng cao năng lực tư duy lý luận của đội ngũ cán bộ người dân tộc thiểu số ở tỉnh Tuyên Quang hiện nay
Chương 4 xây dựng hệ thống định hướng giải quyết vấn đề:
Các quan điểm chỉ đạo bao gồm: nâng cao năng lực tư duy lý luận phải gắn liền với thực tiễn đổi mới kinh tế - xã hội của tỉnh; phải xuất phát từ đặc thù tâm lý, văn hóa tộc người; coi trọng cả đào tạo lý luận và rèn luyện qua thực tiễn hoạt động cách mạng; bảo đảm sự lãnh đạo toàn diện của cấp ủy Đảng các cấp đối với công tác cán bộ.
Các giải pháp cơ bản được đề xuất gồm:
- Đổi mới nội dung, chương trình và phương pháp đào tạo, bồi dưỡng lý luận chính trị cho đội ngũ cán bộ người dân tộc thiểu số tại các trường chính trị và trung tâm bồi dưỡng chính trị theo hướng thiết thực, dễ hiểu, gắn lý luận với giải quyết tình huống thực tế địa phương.
- Tích cực đưa cán bộ vào hoạt động thực tiễn phong phú, luân chuyển công tác về cơ sở, giao việc khó để thử thách, rèn luyện năng lực tư duy biện chứng và khả năng tổng kết thực tiễn.
- Nâng cao tính tích cực, tự giác học tập, tự tu dưỡng, rèn luyện đạo đức cách mạng và phương pháp tư duy khoa học của từng cán bộ người dân tộc thiểu số.
- Xây dựng môi trường xã hội thuận lợi, đẩy mạnh phát triển kinh tế, nâng cao dân trí và đời sống văn hóa tinh thần tại các vùng đồng bào dân tộc thiểu số của tỉnh Tuyên Quang.
- Hoàn thiện chính sách ưu đãi, quy hoạch, sử dụng và đãi ngộ đối với đội ngũ cán bộ người dân tộc thiểu số, tạo động lực vật chất và tinh thần để cán bộ yên tâm công tác, cống hiến.
Kết quả và những đóng góp mới
Về mặt lý luận, luận án đã hệ thống hóa và làm sáng tỏ thêm các phạm trù nhận thức luận: tư duy, tư duy lý luận, năng lực tư duy lý luận; phân tích sâu sắc mối quan hệ biện chứng giữa tư duy kinh nghiệm và tư duy lý luận. Luận án làm rõ thực chất của việc nâng cao năng lực tư duy lý luận đối với đội ngũ cán bộ người dân tộc thiểu số, chỉ ra rằng đây là quá trình khắc phục những hạn chế của tâm lý tiểu nông, thói quen kinh nghiệm truyền thống để tiếp thu thế giới quan, phương pháp luận duy vật biện chứng.
Về mặt thực tiễn, luận án đã làm sáng tỏ biểu hiện đặc thù về năng lực tư duy lý luận của đội ngũ cán bộ người dân tộc thiểu số tại tỉnh Tuyên Quang thông qua tư liệu thực tế giai đoạn từ năm 2010 đến nay. Công trình chỉ rõ cả mặt mạnh, mặt yếu, phân tích căn nguyên sâu xa của những hạn chế về tư duy lý luận do môi trường sống, tập quán và công tác bồi dưỡng tạo nên.
Về mặt giải pháp và kiến nghị, luận án đề xuất một hệ thống quan điểm mang tính định hướng và 5 nhóm giải pháp cơ bản, có tính khả thi nhằm nâng cao chất lượng đào tạo, rèn luyện tư duy lý luận cho cán bộ dân tộc thiểu số tỉnh Tuyên Quang, góp phần xây dựng đội ngũ cán bộ cơ sở đáp ứng yêu cầu phát triển của tỉnh miền núi trong giai đoạn mới.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Về mặt hạn chế, văn bản luận án thừa nhận phạm vi khảo sát giới hạn tại địa bàn tỉnh Tuyên Quang với số liệu tổng hợp chủ yếu từ năm 2010 trở lại đây. Phương pháp thu thập dữ liệu dựa trên nguồn tài liệu, báo cáo thống kê hành chính của các cấp ủy Đảng và chính quyền, chưa triển khai các bộ câu hỏi điều tra xã hội học định lượng quy mô lớn trên diện rộng.
Về hướng nghiên cứu tiếp, từ cơ sở lý luận và phương pháp của luận án, các nghiên cứu sau có thể mở rộng khảo sát so sánh năng lực tư duy lý luận của cán bộ người dân tộc thiểu số giữa các tỉnh trong vùng trung du và miền núi phía Bắc. Ngoài ra, việc nghiên cứu chuyên sâu theo từng ngạch chức danh cụ thể (cán bộ lãnh đạo cấp huyện, công chức cấp xã, hoặc cán bộ khối Đảng so với khối chính quyền) sẽ làm sâu sắc hơn nữa các khuyến nghị chính sách.
Giá trị tham khảo
Luận án là tài liệu tham khảo trực tiếp cho các cấp ủy Đảng, cơ quan tổ chức, ban tuyên giáo và ban dân tộc các cấp tại tỉnh Tuyên Quang cũng như các tỉnh miền núi phía Bắc trong công tác quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng và bố trí đội ngũ cán bộ người dân tộc thiểu số.
Nội dung chương 2 và chương 4 của luận án có giá trị tham khảo thiết thực cho các giảng viên, học viên tại Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh, các trường chính trị cấp tỉnh và các trung tâm bồi dưỡng chính trị trong việc biên soạn giáo trình, đổi mới phương pháp giảng dạy lý luận chính trị sao cho phù hợp với học viên là người dân tộc thiểu số.
Đồng thời, công trình cung cấp tư liệu tham khảo hữu ích cho nghiên cứu sinh, học viên cao học thuộc các chuyên ngành Triết học, Xây dựng Đảng và Chính quyền nhà nước, Quản lý công và Dân tộc học khi tiếp cận vấn đề năng lực tư duy của đội ngũ cán bộ công quyền.
Câu hỏi thường gặp
Luận án xác định năng lực tư duy lý luận là gì?
Năng lực tư duy lý luận được luận án xác định là tổng hợp các phẩm chất trí tuệ của một chủ thể nhất định, đáp ứng yêu cầu phát hiện, nhận thức đúng đắn bản chất, quy luật của sự vật, hiện tượng, quá trình ở trình độ lý luận nhanh, nhạy bén, sáng tạo và có những dự báo, đề xuất thiết thực góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động nhận thức và hoạt động thực tiễn.
Có những yếu tố nào ảnh hưởng đến năng lực tư duy lý luận theo luận án?
Luận án chỉ ra năm yếu tố chi phối: (1) yếu tố bẩm sinh, di truyền; (2) quá trình giáo dục, đào tạo và tự rèn luyện; (3) môi trường kinh tế - xã hội, nền tảng văn hóa, khoa học; (4) hoạt động thực tiễn; (5) nhu cầu và lợi ích của chủ thể. Trong đó, giáo dục đào tạo đóng vai trò chủ đạo, còn hoạt động thực tiễn là cơ sở trực tiếp và chủ yếu nhất.
Hạn chế cơ bản về tư duy lý luận của cán bộ dân tộc thiểu số tại Tuyên Quang là gì?
Theo khảo sát của tác giả, hạn chế nổi bật gồm: suy nghĩ và giải quyết công việc còn nặng về thói quen, kinh nghiệm, cảm tính, giáo điều; năng lực trừu tượng hóa, khái quát hóa chưa cao; khả năng dự báo tình hình và tiếp nhận thông tin mới còn chậm; xử lý công việc còn máy móc và chưa biết đúc kết kinh nghiệm thực tiễn thành tri thức lý luận.
Dữ liệu thực tế của luận án được thu thập từ nguồn nào và trong giai đoạn nào?
Dữ liệu của luận án được thu thập từ các báo cáo tổng kết, số liệu thống kê của các cấp ủy Đảng, chính quyền từ tỉnh đến các xã thuộc tỉnh Tuyên Quang, tập trung chủ yếu vào giai đoạn từ năm 2010 đến nay.
Kết luận
Luận án tiến sĩ Triết học của tác giả là công trình nghiên cứu định tính có hệ thống về vấn đề nâng cao năng lực tư duy lý luận của đội ngũ cán bộ người dân tộc thiểu số tại tỉnh Tuyên Quang. Bằng việc vận dụng thế giới quan và phương pháp luận mác-xít, tác giả đã làm rõ cấu trúc nhận thức luận của năng lực tư duy lý luận và các nhân tố quy định sự hình thành của năng lực này. Phân tích thực trạng tại Tuyên Quang từ năm 2010 đã phác họa bức tranh xác thực về những ưu điểm và điểm nghẽn nhận thức của đội ngũ cán bộ địa phương. Các quan điểm và giải pháp được đề xuất trong luận án mang giá trị ứng dụng cụ thể, phục vụ đắc lực cho công tác xây dựng đội ngũ cán bộ và phát triển bền vững vùng đồng bào dân tộc thiểu số tỉnh Tuyên Quang.