Chương 1. Giới thiệu nghiên cứu. Trình bày lý do chọn đề tài, câu hỏi nghiên cứu, mục tiêu nghiên cứu, đối tượng, phạm vi nghiên cứu và kết cấu luận văn. Chương này trình bày các khái niệm về hộ nghèo, tín dụng, thu nhập; khung sinh kế; vai trò của tín dụng NHCSXH đến thu nhập của hộ nghèo.
Phương pháp nghiên cứu và mô hình nghiên cứu. Chương này trình bày nguồn dữ liệu, chọn mẫu nghiên cứu, phương pháp hồi quy Binary Logistic, hồi quy bội, mô tả các biến trong mô hình nghiên cứu. Kết quả nghiên cứu. Chương này trình bày tổng quan về mẫu nghiên cứu, phân tích tương quan giữa các biến độc lập trong mô hình và trình bày kết quả phân tích hồi quy.
Kết luận và hàm ý chính sách. Chương này trình bày những kết quả mà đề tài đạt được, các hàm ý chính sách nhằm giúp hộ nghèo ở huyện An Biên tiếp cận và sử dụng tốt nguồn vốn tín dụng từ NHCSXH, nâng cao mức sống, đồng thời chỉ ra các hạn chế của đề tài và hướng nghiên cứu tiếp theo. 123doc 4 CHƯƠNG 2. TỔNG QUAN LÝ THUYẾT NGHIÊN CỨU 2.
LÝ THUYẾT VỀ HỘ NGHÈO 2. Khái niệm hộ nghèo Đói nghèo thường được mô tả như một tình trạng theo đó những cá nhân, hộ gia đình và cộng đồng thiếu các nguồn lực để tạo ra những nguồn thu nhập có thể duy trì mức tiêu dùng đủ đáp ứng nhu cầu cho một cuộc sống đầy đủ, sung túc. Theo cách tiếp cận này, đói nghèo là tình trạng thiếu vốn vật chất. Sự thiếu thốn vật chất còn có thể được thể hiện qua những nét đặc trưng của những khu vực mà người nghèo thường sinh sống, là những nơi thường thiếu điện, nước sạch hay nhà vệ sinh và các dịch vụ khác (UNDP, 2012).
Hội nghị về chống nghèo ở khu vực Châu Á – Thái Bình Dương do ESCAP tổ chức tháng 9/1993 tại Bangkok, Thái Lan đã đưa ra định nghĩa về nghèo như sau: “Nghèo là một bộ phận dân cư không được hưởng và thỏa mãn những nhu cầu cơ bản của con người, mà những nhu cầu này đã được xã hội thừa nhận tùy theo trình độ phát triển kinh tế xã hội phong tục tập quán của địa phương”. Hội nghị thượng đỉnh thế giới về phát triển xã hội tổ chức năm 1995 đưa ra định nghĩa về nghèo: “Người nghèo là tất cả những ai mà thu nhập thấp hơn dưới một đô la mỗi ngày cho mỗi người, số tiền được coi như đủ để mua những sản phẩm cần thiết để tồn tại”. Các nhóm nghiên cứu của UNDP, UNFPA, UNICEF trong công trình “Xóa đói giảm nghèo ở Việt Nam -1995 đã đưa ra định nghĩa: “Nghèo là tình trạng thiếu khả năng trong việc tham gia vào đời sống quốc gia, nhất là tham gia vào lĩnh vực kinh tế”. Một cách hiểu khác thì nghèo là một bộ phận dân cư có mức sống dưới ngưỡng quy định của sự nghèo.
Nhưng ngưỡng nghèo còn phụ thuộc vào đặc điểm của từng địa phương, từng thời kỳ cụ thể hay từng giai đoạn phát triển kinh tế xã hội cụ thể của từng địa phương hay từng quốc gia. Kể từ năm 2000, Ủy ban Kinh tế và Xã hội châu Á Thái Bình Dương của Liên hiệp quốc (UNESCAP) đã đưa ra ba khái niệm liên quan chặt chẽ với nhau để mô tả nghèo đói, đó là nghèo thu nhập, nghèo tiếp cận và nghèo sức mạnh. 123doc 5 Nghèo thu nhập là khi thu nhập dưới một ngưỡng nghèo. Nghèo thu nhập thường được sử dụng để đánh giá nghèo đói, cách biệt giàu nghèo, bất bình đẳng và mức độ thoát nghèo của một quốc gia.
Nghèo tiếp cận làm vững chắc hơn nữa cái nghèo thu nhập và vòng luẩn quẩn đói nghèo. Người nghèo không tiếp cận được với rất nhiều dịch vụ và cơ sở hạ tầng cơ bản, từ giao thông đến giáo dục, nguồn vốn, nước sạch, nhà ở, an sinh xã hội, thông tin và chính sách. Nghèo sức mạnh thể hiện ở chỗ cho dù có thể tiếp cận được, thì những chính sách và thông tin này có thực sự giúp được những người nghèo không? Câu trả lời là “có” chỉ khi nó đáp ứng được nhu cầu và bắt nguồn từ thực tế của họ. Điều đó liên quan đến việc người nghèo có được tạo điều kiện, và có đủ năng lực, sức mạnh để có thể có ý kiến tham gia vào quá trình xây dựng chính sách và những quyết định liên quan đến họ hay không.
Trong phạm vi luận văn này, tác giả sử dụng cách tiếp cận nghèo theo hướng nghèo thu nhập và nghèo tiếp cận, tức là người nghèo sẽ nằm dưới ngưỡng thu nhập nghèo theo quy định của Chính phủ và thiếu khả năng tiếp cận chính sách, cụ thể ở đây là chính sách vay vốn tại địa phương. Đặc điểm hộ nghèo Theo Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội (2015), người nghèo đa phần là người nông dân sống ở vùng nông thôn, do họ thiếu thốn, thiếu kinh nghiệm, thiếu kiến thức sản xuất nên đời sống gặp nhiều khó khăn. Đa phần họ bị hạn chế về khả năng nhận thức và kỹ năng sản xuất kinh doanh nên họ thường tổ chức sản xuất theo thói quen, chưa biết mở mang ngành nghề, chưa có điều kiện tiếp xúc thị trường. Các hộ nghèo thường có nhiều con hoặc ít lao động trong gia đình, chịu áp lực lớn về chi phí y tế, giáo dục và không thỏa mãn các nhu cầu cơ bản của đời sống.
Chuẩn nghèo Tính đến nay trên thế giới có hai phương pháp cơ bản để xác định chuẩn nghèo, đó là phương pháp dựa trên nhu cầu chi tiêu của con người để bảo đảm mức sống tối thiểu của một con người và phương pháp dựa vào thu nhập để bảo đảm mức sống tối thiểu. Tuy nhiên, chuẩn nghèo không phải là một đại lượng cố định mà nó luôn biến động theo thời gian và không gian, tùy thuộc vào trình độ phát triển kinh tế - xã hội và phong tục tập quán của từng quốc gia. Từ năm 1985, Ngân hàng Thế giới xem thu 123doc 6 nhập 1 USD/ngày/người để thỏa mãn nhu cầu sống tối thiểu như là chuẩn tổng quát cho nghèo đói toàn cầu (WB, 2004). Mỗi quốc gia cũng xác định mức thu nhập tối thiểu riêng của nước mình dựa vào điều kiện cụ thể về kinh tế của từng giai đoạn phát triển nhất định, do đó mức thu nhập tối thiểu được thay đổi và nâng dần lên.
Theo báo cáo về tình hình nghèo đói của Ngân hàng thế giới, với chuẩn nghèo trên, số người sống dưới mức nghèo khổ trên thế giới đã giảm rõ rệt trong vòng 25 năm qua (1981 – 2005), song tốc độ giảm nghèo vẫn chậm và số người nghèo vẫn còn rất lớn. Đến năm 2008, Ngân hàng thế giới đã nâng từ 1USD/người/ngày lên 1,25 USD/người/ngày theo chỉ số giá cả năm 2005. Theo tiêu chuẩn này, số người nghèo trên thế giới đã giảm từ 1,9 tỷ người xuống còn 1,4 tỷ người trong vòng ¼ thế kỷ. Chuẩn nghèo mới duy trì cùng một tiêu chuẩn nghèo tuyệt đối điển hình của các nước nghèo nhất trên thế giới, những cập nhật sử dụng mới nhất thông tin về chi phí sinh hoạt ở các nước đang phát triển.
Tuy nhiên, hầu hết những người đã thoát khỏi đói nghèo vẫn còn rất nghèo theo các tiêu chuẩn của nền kinh tế có thu nhập trung bình. Chuẩn nghèo trung bình cho các nước đang phát triển trong năm 2005 là 2,00 USD/người/ngày (WB, 2008). Các nước Châu Âu là 4,00 USD/người/ngày, các nước công nghiệp phát triển là 14,4 USD/người/ngày (Báo cáo Chính phủ và chuẩn nghèo giai đoạn 2006-2010). Ở Việt Nam, tiêu chí xác định hộ nghèo để được hưởng các chính sách ưu đãi, hỗ trợ của Nhà nước dành cho người nghèo phải căn cứ vào chuẩn nghèo mà Bộ Lao động Thương binh và Xã hội ban hành trong từng giai đoạn.
Cứ năm năm một lần Chính phủ lại ban hành chuẩn nghèo thu nhập mới để tiến hành tổng rà soát hộ nghèo trên toàn quốc, làm căn cứ để thực hiện các chính sách an sinh xã hội phù hợp với mức sống dân cư và diễn biến giá cả trong từng thời kỳ. Theo quy định mỗi tỉnh, thành phố có thể đề ra chuẩn nghèo thu nhập riêng của mình căn cứ vào mức sống dân cư ở từng địa phương, miễn là không thấp hơn chuẩn nghèo thu nhập chung của Chính phủ. * Giai đoạn 2001-2005: Giai đoạn này chuẩn hộ nghèo được xác định theo Quyết định số 143/2000/QĐ – BLĐTBXH ngày 01/11/2000 như sau: + Vùng nông thôn miền núi, hải đảo: 80.000 đồng/tháng, tương đương 960. 123doc 7 + Vùng nông thôn cho đồng bằng: 100.000 đồng/tháng hay 1.
+ Vùng thành thị: 150.000 đồng/tháng hay 1. Những hộ có mức thu nhập bình quân đầu người dưới mức quy định trên được xác định là hộ nghèo. * Giai đoạn 2006 – 2010: Giai đoạn này chuẩn nghèo được xác định theo Quyết định 170/2005/QĐ– TTg ngày 08/7/2005 của Thủ tướng Chính phủ như sau: + Khu vực nông thôn: những hộ có mức thu nhập bình quân từ 200.000 đồng/tháng (2.000 đồng/người/năm) trở xuống là hộ nghèo. + Khu vực thành thị: những hộ có mức thu nhập bình quân từ 260.000 đồng/tháng (3.000 đồng/người/năm) trở xuống là hộ nghèo.
* Giai đoạn từ năm 2011-2015: Chuẩn nghèo được áp dụng theo Quyết định 09/2011/QĐ-TTg ngày 01/01/2011 của Thủ tướng Chính phủ: + Khu vực nông thôn: những hộ có mức thu nhập bình quân từ 400.000 đồng/tháng (4.000 đồng/người/năm) trở xuống là hộ nghèo; hộ có mức thu nhập bình quân từ 401.000 đồng/người/tháng là hộ cận nghèo. + Khu vực thành thị: những hộ có mức thu nhập bình quân từ 500.000 đồng/tháng (6.000 đồng/người/năm) trở xuống là hộ nghèo; hộ có mức thu nhập bình quân từ 501.000 đồng/người/tháng là hộ cận nghèo. - Riêng đối với Long An mức chuẩn hộ nghèo là: hộ nghèo ở nông thôn là hộ có mức thu nhập bình quân từ 400.000 đồng/người/tháng (từ 4.000 đồng/người/năm) trở xuống, hộ nghèo ở thành thị là hộ có mức thu nhập bình quân từ 540.000 đồng/người/tháng (từ 6.000 đồng/người/năm) trở xuống. * Giai đoạn 2016 – 2020: Chuẩn nghèo được áp dụng theo Quyết định số 59/2015/QĐ-TTg ngày 19/01/2015 của Thủ tướng Chính phủ về ban hành chuẩn nghèo theo tiếp cận nghèo đa chiều giai đoạn 2016 – 2020.
Theo đó, chuẩn nghèo được áp dụng theo 2 tiêu chí là tiêu chí về thu nhập và Tiêu chí mức độ thiếu hụt tiếp cận dịch vụ xã hội cơ bản. - Các tiêu chí về thu nhập: Chuẩn nghèo: 700.000 đồng/người/tháng ở khu vực nông thôn và 900.000 đồng/người/tháng ở khu vực thành thị. Chuẩn cận nghèo: 123doc 8 1.000 đồng/người/tháng ở khu vực nông thôn và 1.000 đồng/người/tháng ở khu vực thành thị. - Tiêu chí mức độ thiếu hụt tiếp cận dịch vụ xã hội cơ bản.