Chương 1 DAT VAN DE I. Lý do nghiên cứu dé tài Nghèo đới là vấn đề mang tính toàn câu, cấp bách trong công cuộc phát triển kinh tế — xã hội của toàn thể nhân loại, cho từng khu vực, cho từng quốc gia và cho từng người chung sống trên hành tinh này. Trong thế kỷ trước chúng ta đã có những tiến bộ vượt bật trong công tác xóa đới giảm nghèo và cải thiện phúc lợi. Báo cáo về Tình Hình Phát Triển Thế Giới (2000/2001) về Tấn Công Nghèo Doi thì trong những thập niên qua tuổi thọ trung bình của các nước đang tăng lên 13%, từ 1965-1998 thu nhập bình quân tăng gấp hai lần ở các nước đang phát triển, trong giai đoạn 1990 -1998 số người sống trong cảnh nghèo cùng cực giảm 78 triệu người.
Tuy vậy, bước sang thế kỷ này, nghèo đói vẫn tiếp tục theo đuổi loài người và chúng cũng còn là vấn để của toàn cầu: Có tới 1,2 tỷ người sống dưới 1 USD/ngày, có 2,8 tỷ người sống dưới mức 2 USD/ngày, cứ 100 trẻ sơ sinh thì có đến 6 chưa sống đến lúc đẩy năm và có 8 trẻ không sống đến 5 tuổi. Còn cứ 100 trẻ sống đến tuổi đi học thì có 9 bé trai và 14 bé gái không được cắp sách đến trường tiểu học. Theo Viet Nam Development Report (2000), thì tại Việt Nam tỷ lệ nghèo đói đã được giảm trong những năm qua thể hiện bằng việc tăng thu nhập, tiêu dùng va cải thiện các điều kiện xã hội. Tuy nhiên nghèo đói vẫn còn rất nhiễu, đặc biệt là khu vực nông thôn chiếm tới 45% sống dưới ngưỡng nghèo.
Trong đó khu vực miền núi phía bắc, tây nguyên và duyên hải miễn trung là ba khu vực nghèo nhất. Theo chuẩn mới, đến hết năm 2000, cả nước còn khoảng 2,8 triệu hộ nghèo (khoảng 14 triệu người), chiếm khoảng 17%. Trong đó hộ thường xuyên thiến đói chiếm 0,8 % tổng số hộ trong cả nước. Trong những năm qua, những chính sách chủ trương nhằm phát triển kinh tế — xã hội, xóa bổ nghèo đói của chính phủ đã mang lại một số chuyển biến tích cực, cuộc sống của đại bộ phận nhân dân được nâng lên, các điều kiện về y tế giáo dục được cải thiện dang kể, chiến lược xóa đói giảm nghèo tới năm 2005 nước ta phấn đấu theo bầy mục tiêu sau: Mỗi năm phấn đấu giảm 2 - 3% hộ nghèo, đến năm 2010 còn 5%, không còn hộ đói, hộ du canh du cư; có đủ nước sinh hoạt; không còn nhà đột nát; có đủ lớp học; có nơi khám chữa bệnh; có đường 6 tô tới xã; bảo dam an ninh lương thực tại chỗ.
Năm 1997 tỉnh Quảng Nam được tách ra thành đơn vị hành chính riêng từ tỉnh Quảng Nam Đà Nẵng cũ, Tam Kỳ được chọn là trung tâm tỉnh, trong những năm đầu thành lập còn nhiều yếu kém về kinh tế, đời sống của nhân dân có nhiều khó khăn về vật chất lẫn tinh than, thị xã Tam Kỳ có 21 xã phường nhưng hiện nay vẫn còn > ờ; nhiều xã nghèo như : Tam phú, phường An Phú.trong tình hình đời sống của nhiều người dân trong tỉnh nói chung, tại thị xã Tam Kỳ nói riêng và cụ thể là tại xã Tam Lãnh còn nghèo, để góp một phần nhỏ bé của mình vào việc nghiên cứu, tìm hiểu nhằm tìm ra những phương hướng tích cực hơn vào công tác giảm nghèo tại xã Tam Lãnh nên tôi quyết định chon dé tài nghiên cứu này. Mục đích nghiên cứu Thông qua việc nghiên cứu thực trạng nghèo và công tác xóa đói giảm nghèo của xã Tam Lãnh, tác giả tìm ra những nguyên nhân của nghèo và từ đó nêu một số biện pháp nhằm khắc phục tình trạng nghèo, đưa công tác xoá đói giảm nghèo của xã có hiệu quả hơn. Qua những nghiên cứu này, có thể giúp cho những bên, những người có liên quan nhất là cán bộ làm về công tác này có cách nhìn sâu sắc hơn trong công tác xóa đói giảm nghèo của địa phương mình, từ đó có những hành động đúng hơn đối những hộ nghèo tại xã mà chủ yếu là trong hoạt động sản xuất nhằm cải thiện thu nhập của họ. Mục tiêu nghiên cứu Tác giả từng bước nghiên cứu thực trạng nhiều vấn đề tổn tại đối với đời sống sản xuất của người dân nông thôn, chúng trực tiếp hay gián tiếp tác động đến họ như thế nào, xác định những nhân tố tác động, ảnh hưởng đến cái nghèo, nắm bắt được những nguyên nhân và nhân tố đó, từ đó có dé xuất những giải pháp chung cũng như loại hình sản xuất cụ thể, điển hình của dé tài là nâng cao hơn hiệu quả thu nhập cho nông hộ nghèo thông qua sản xuất nông nghiệp trên địa bàn nghiên cứu .N6i dung nghiên cứu Gém những phần sau: Tìm biểu thực trạng của các diéu kiện tổng quan trong địa ban xã Tam Lãnh, thực trạng sản xuất của hộ nghèo tại xã, xác định nguyên nhân, các nhân tố ảnh hưởng đến nghèo và nghiên cứu những để xuất nhằm tăng thu nhập cho nông hộ thông qua mô hình nuôi bò.
ei = =tp= <2 ee —- —= —-: som V. Pham vi và đối tượng nghiên cứu - Phạm vi: Nghiên cứu này được thực hiện trên địa bàn của một xã miền núi, thuộc thị xã Tam kỳ, tỉnh Quảng Nam; thời gian nghiên cứu từ ngày 22/2/2004- 20/4/2004. - Đối tượng: Những hộ nằm trong diện nghèo của theo danh sách của xã, những hộ có chăn nuôi bò sinh san Laisind. Chương 2 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU I.
Khái niệm về nghèo Nghèo là tình trạng của một bộ phận dân cư chỉ có các điều kiện vật chất và tỉnh thần để duy trì cuộc sống của gia đình họ ở mức sống tối thiểu trong điều kiện của cộng đồng. Uỷ ban kinh tế — xã hội khu vực Châu A Thái Bình Dương cho rằng: Nghèo là tình trạng một bộ phận dân cư không có khả năng thoả mãn những nhu cầu cơ bản của con người ( 8 nhu cầu cơ ban), mà những nhu cầu phụ thuộc vào điều kiện kinh tế — xã hội và phong tục, tập quán của từng vùng và những phong tục, tập quán đó được xã hội thừa nhận. Việt Nam cũng thừa nhận quan niệm này. Quan niệm của cộng đồng quốc tế cho rằng: Nghéo đói là sự thiếu hụt trầm trọng các cơ hội lựa chọn và khả năng tham dự vào quá trình phát triển kinh tế xã hội của quốc gia.
Khái niệm người nghèo ở nông thôn Người nghèo là những ngưới nằm trong hộ nghèo. Tuy nhiên theo cách nhìn nhận rộng hơn của cộng đồng quốc tế thì người nghèo là những người thiếu một cách rất trầm trọng các cơ hội lựa chọn và kha năng tham gia vào cuộc sống kinh tế - xã hội của đất nước. Người nghèo nông thôn, có thể hiểu là người sống ở khu vực nông thôn sống dưới ngưỡng nghèo nông thôn do cơ quan có thẩm quyển của nước đó xác định. Khái niệm về hộ nghèo: e Theo bộ lao động thương binh xã hội: Hộ nghèo là tình trạng một bộ phận gia đình có mức sống dưới mức trung bình của cộng đồng (Hộ nghèo là hộ thiếu ăn nhưng không đứt bữa, mặc không lành, không đủ điều kiện phát triển sản xuất ).
e Theo tổng cục thống kê: Chọn mức tiêu dùng tối thiểu là 2.100 calo/ngudi/ngay, hộ nghèo là hộ có mức thu nhập bình quân đầu người ở nồng thôn dưới 78.500đ/tháng (rất nghèo dưới 52. e Theo ngân hàng thế giới : Chọn mức tiêu dùng năng lượng tối thiểu là 2.100 calo/người /ngày và chiếm 10% nhu cầu chỉ tiêu, còn lại 3% chỉ các nhu cầu khác ngoài lương thưc, thực phẩm, ăn mặc, học tập văn hoá, đi lại). Trên đây là những quan niệm về hộ nghèo, để có thể hiểu thêm về chuẩn nghèo chung của cả nước để tài xin giới thiệu lại như thế nào là hộ nghèo theo bộ lao động và thương binh xã hội trong giai đoạn hiện nay từ 2001-2005: e Theo chuẩn mực đói nghèo năm (1997-1998) qui định như sau: Hộ nghèo phân theo hai mức khư vực: - Vùng nông thôn miền núi, hải đảo: là hộ có thu nhập dưới 15 kg gạo/tháng tương ứng với 55. - Vùng nông thôn đồng bằng trung du: là hộ có thu nhập bình quân đầu người dưới 20kg gạo/tháng tương ứng với 70.
Quyết định số 1143/2000/QD - LDTBXH ngày 01/11/2000 của bộ trưởng bộ Lao Động Thương Binh Xã Hội qui định chuẩn nghèo theo mức thu nhập bình quân đầu người trong từng vùng lần lượt như sau: - Vùng nông thôn miền núi và hải đảo: 80.000 đồng /tháng, 960. - Vùng nông thôn đồng bằng: 100.000 đồng /tháng, 1. - Vùng thành thị: 150.000 đồng /tháng, 1. e Chuẩn đánh giá nghèo của tỉnh Quảng Nam: Lấy chuẩn đói nghèo của bộ Lao Động — Thương binh xã hội làm chuẩn.
e Tuy nhiên, cần nhìn nhận về những quan điểm mới về các tiêu chuẩn đánh giá nghèo, nó không chỉ là sự bao hàm về sự khốn cùng về vật chất (được đo lường theo khả năng về thu nhập hay tiêu dùng) mà còn là sự hưởng thụ thiếu thốn về giáo dục, y tế, dinh dưỡng và các yếu tố khác. Trình độ thụ hưởng giáo dục và y tế thấp là những vấn dé thuộc về bản thân từng người, nhưng nó đáng được quan tâm khi nó đi kèm với sự khốn cùng về vật chất. Đói nghèo theo quan điểm mới là tính đến cả những nguy cơ dé bị tổn thương và dé gặp rủi ro, không có tiếng nói và quyền lực. Chỉ tiêu nghiên cứu Đánh giá nghèo đói theo quan điểm mới thì không thể chỉ dùng một chỉ tiêu cụ thể nào, mà phải là sự tổng hợp của tất cả các chỉ tiêu liên quan đến toàn bộ đời sống của hộ nghèo như ngoài chỉ tiêu mang tính cổ điển là về thu nhập, chỉ tiêu của người nghèo và thì còn có các chỉ tiêu liên quan đến y tế, giáo dục, các yếu tố và tuổi thọ, sự bất bình đẳng, tiếng nói của người nghèo,.Tuy nhiên, với khả năng han chế của dé tài nên tác giả không thể tập trung nghiên cứu tất cả các chỉ tiêu trên được mà tác giả chỉ theo chỉ tiêu cổ điển là về thu nhập của người nghèo trên địa bàn nghiên cứu.
-Thu nhập của hộ trong năm: Thu nhập của hộ dan = Thu nhập từ phi nông nghiệp trong năm + Thu nhập phi nông nghiệp trong năm. -Thu nhập bình quân người /năm = Thu nhập của hộ dân trong một năm / Tổng số nhân khẩu.