CHƯƠNG I. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LÝ VE CÔNG TÁC QUAN LÝ CHAT THAI RAN SINH HOAT 1. M6t sé khái niém 1. Khai niém chat thai ran Theo mục 1, Điều 3, Nghị định 38/2015/NĐ-CP về quan lý chat thai và phế liệu, có thé hiểu “Chat thải ran là chất thải ở thé rắn hoặc sệt (còn gọi là bùn thai) được thải ra từ sản xuất, kinh doanh, dịch vụ, sinh hoạt hoặc các hoạt động khác.” Trang | 11 Công tác quản lý chất thải rắn sinh hoạt tại Quận Hai Bà Trưng 1.
Khái niệm chất thải rắn sinh hoạt Chất thải rắn sinh hoạt (còn gọi là rác sinh hoạt) là chất thải rắn phát sinh trong quá trình sống, sinh hoạt thường ngày của con người (cá nhân, hộ gia đình, nơi công cộng. Vi dụ: thức ăn thừa, rau, xương, thủy tinh, kim loại, gỗ, giấy, chai nhựa, túi nilon. Khái niệm quản lý chất thải rắn Quản lý chat thải rắn là sự tác động có tô chức trong phạm vi trách nhiệm, quyền hạn, phương tiện, lợi ích được giao dé xử lý vấn đề môi trường nói chung, chất thải rắn nói riêng thuộc địa ban được phân giao của co quan chuyên trách vê môi trường. Khái niệm quản lý chất thải rắn sinh hoạt Theo Nghị định 38/2015/NĐ-CP, quan lý chất thai rắn sinh hoạt được hiéu là việc cơ quan nhà nước có thẩm quyền sử dụng quyền lực được trao dé lập ké hoạch, tổ chức, lãnh đạo, kiểm soát các nguồn lực và hoạt động của các tổ chức, cộng đồng, hộ gia đình, cá nhân trong việc phòng ngừa, giảm thiểu, giám sát, phân loại, thu gom, vận chuyền, tái sử dụng, tái chế và xử lý CTRSH nhằm hạn chế tác động tiêu cực của CTRSH tới môi trường, bảo vệ và cải thiện môi trường sông của người dân.
Nguồn gốc, phân loại và thành phan của chat thải ran sinh hoạt 1. Ngu6n gốc phát sinh chat thải ran sinh hoạt Chất thải rắn phát sinh từ khu vực đô thị - gọi là chất thai ran đô thị bao gồm các loại chất thải rắn phát sinh từ các cá nhân, hộ gia đình, khu công cộng (khu thương mại, chợ, trường học, bến xe,.) các cơ quan, các công trình xây dựng, khu xử lý chất thải, chất thải rắn từ các khu, cụm công nghiệp. Trong đó CTRSH chiếm tỷ lệ cao nhất phát sinh chủ yêu từ các cá nhân, hộ gia đình và các khu vực công cộng. Trang | 12 Công tác quản lý chất thải rắn sinh hoạt tại Quận Hai Bà Trưng Sơ đô 1.1: Sơ đồ nguồn gốc phát sinh chất thải rắn sinh hoạt Từ các hộ Từ hoạt động dịch vụ thương Từ các dân cư.
công trường Chất thải rắn sinh hoạ ” 4 hec. † Từ đường phó, chợ, các bến I Từ các bệnh viện; các khu, cụm xe, nhà ga. công nghiệp tập trung. Phân loại chất thải rắn sinh hoạt Dé phân loại CTRSH có thé dựa vào một số tiêu chí khác nhau như: phân loại theo vị trí hình thành; theo thành phan vật lý, hóa học; theo tính chat rác thải.
Theo vị trí hình thành: Tùy theo vị trí hình thành mà ta có thể phân ra các loại như: rác thải đường phố, khu vực công cộng, rác thải vườn, rác thải các khu công nghiệp tập trung, rác thải hộ gia đình,. Theo thành phan vật lý, hóa học: Theo thành phan hóa học có thé phân ra chat thai hữu cơ, chất thải vô cơ, kim loại, phi kim,. Theo mức độ nguy hại, chất thải được phân thành các loại là nguy hại và không nguy hại: + Chat thải nguy hại: Bao gồm các chất dé phản ứng, các chất độc hai, chat thải sinh học dễ thối rita, các chất dé gây cháy, nỗ, chất hóa học, chat thải phóng xa,. + Chat thải không nguy hại: Là những chat thải không chứa các thành phan chat và các hợp chất có các đặc tính nguy hại trực tiếp hoặc gián tiếp.
Trang | 13 Công tác quản lý chất thải rắn sinh hoạt tại Quận Hai Bà Trưng 1. Thành phần của chất thải rắn sinh hoạt Thanh phan của CTRSH được quyết định bởi các yêu tố như: vị trí địa lý từng địa phương, đặc điểm khí hậu, điều kiện kinh tế và các yêu tố khác. Thông thường thành phần CTRSH bao gồm khoảng: Chất thải hữu cơ 55%; 30% là chất trơ và còn lại là nhựa, nilon, giấy, nhựa, thủy tinh, cao su, đồ da, vải, 26, kim loai va chat thải khác. Tác động của chất thải ran sinh hoạt đối với môi trường tự nhiên, sức khỏe cộng đồng và kinh tế — xã hội Thành phan hữu cơ dễ phân hủy sinh học (thức phẩm thừa, rác vườn.) chiếm tỷ lệ lớn nhất (52 - 72%) trong thành phần CTRSH của Việt Nam với độ âm rất cao (70 - 85%), cùng với nhiệt độ cao của khu vực nhiệt đới là nguyên nhân chính gây nên mùi hôi thối, phát sinh nước rỉ rác làm ô nhiễm môi trường (đất, nước mặt, nước ngầm) trên diện rộng từ quá trình thu gom vận chuyên và xử lý CTRSH, đặc biệt là tai các bãi chôn lấp do CTRSH bị phân hủy trong điều kiện ky khí và dưới tác dụng của vi sinh vật.
Ngoài ra thành phần hữu cơ dé phân hủy sinh học là môi trường thuận lợi cho sự phát triển và lan truyền các loại côn trùng và động vật gây bệnh (ruồi, muỗi, bọ chét, chuột, gián.), gây ảnh hưởng đến sức khỏe của cộng đồng. Nếu không được quản lý hợp lý, tác động tiêu cực của CTRSH đối với môi trường, Kinh tế — Xã hội và sức khỏe cộng đồng là không thể tránh khỏi. Tác động đến môi trường tự nhiên - Tac động đến môi trường đất và cảnh quan: Do đặc tính về kích thước và thành phần khó phân hủy theo thời gian nên tác động có thé dé thấy nhất là ảnh hưởng đến cảnh quan. Có thé dé dàng tìm thấy rất nhiều hình ảnh về các điểm rác, bãi rác lộ thiên gây mat mỹ quan tại các đô thị, khu dân cư, khu vực công cộng.
Bên cạnh đó, khi CTRSH bị đồ thải trực tiếp trên mặt đất như tại các bãi rác, điểm rác tự phát, sự phân hủy thành phần hữu cơ trong điều kiện ky khí và dưới tác dụng của vi sinh Trang | 14 Công tác quản lý chất thải rắn sinh hoạt tại Quận Hai Bà Trưng vật sẽ tạo ra các axit hữu cơ làm axit hóa dat. Ngoài ra, sự tích tụ các kim loại nặng và chất nguy hại do thâm thấu từ nước rỉ rác vào đất cũng góp phần gây ô nhiễm môi trường đất. - Tac động đến môi trường nước: Khi thải vào các nguồn nước mặt, CTRSH gây ra các vấn đề như sau: + Các chat thải nổi lên bề mặt nước gây mat cảnh quan, đồng thời cản trở sự truyền ánh sáng, gây ảnh hưởng đến quá trình quang hợp của các loại thực vật nước. + Các chất thải lơ lửng trong nước, đặc biệt là các loại nhựa, dây buộc.
quan vào chân vịt của tàu thuyền làm cản trở giao thông đường thủy và là nguyên nhân gây chết các loại thủy hải sản. + Các chất thải lắng xuống đáy làm tăng khối lượng trầm tích phải nạo vét hàng năm. Quá trình phân hủy ky khí sinh ra các loại khí độc hại, đặc biệt là khí H2S gây ngộ độc cho các loại thủy hải sản. Ngay cả khi được chôn lap hợp vệ sinh, CTRSH cũng gây ô nhiễm môi trường nước do không xử lý nước rỉ rác đạt yêu cầu theo quy định.
Thực trạng công tác nạo vét mạng lưới thoát nước và vận hành trạm bơm nước thải cũng như nhà máy/trạm xử lý nước thải trên địa bàn Thành phố Hà Nội va Thành phó Hồ Chí Minh cho thấy, do ý thức của người dân, một lượng lớn CTRSH bị đồ xuống mạng lưới thoát nước. Nhiều đoạn công thoát nước mới xây dựng có đường kính đến 1.500 mm bi tắc nghẽn do chất thải xây dựng và CTRSH. - Tac động đến môi trường không khí: Quá trình phân hủy các chất hữu cơ có khả năng phân hủy sinh học (Thực phâm dư thừa, xác động thực vật,.) trong CTRSH sẽ phát sinh mùi khó chịu. Mùi có thể phát sinh từ các hợp chất sau: Hydro sunfua (H2S), Mercaptan và các loại axit béo bay hơi (axit axetic, axit propionic, axit butyric).
Mặt khác, do đặc thù tạo khí của bãi chôn lấp, trên đỉnh và gần bãi thường ít có mùi, nhưng ở khoảng cách xa hơn ngoài phạm vi bãi thì mùi có độ đậm đặc hơn. Ngoài mùi có thể cảm nhận dễ dàng bằng khứu giác, CTRSH trong điều kiện ky khí còn phát sinh nhiều loại khí nhà kính và khí gây ô nhiễm môi trường, như: Khí Metan, khí CO2, Phosphin, Amoniac,. Trang | 15 Công tác quản lý chất thải rắn sinh hoạt tại Quận Hai Bà Trưng 1. Tác động đến sức khỏe cộng đồng Hiện nay, khoảng 70% khối lượng CTRSH thu gom trên cả nước được xử lý bằng phương pháp chôn lấp, trong đó chỉ có khoảng 20% là bãi chôn lap hợp vệ sinh, còn lại là các bãi chôn lấp không hợp vệ sinh hoặc các bãi tập kết chất thải cấp xã (Bộ Tài nguyên Môi trường, 2018).
Bãi chôn lấp là nơi thích hợp cho các loài chuột, bọ, ruồi, nhặng và các loại sinh vật gây bệnh phát triển và cư trú. Với chu kỳ sinh trưởng rất ngắn, các loại sinh vật này sẽ là nguồn lan truyền bệnh tật đối với khu vực dân cư xung quanh nếu không được quan lý hợp lý. Các loài vi sinh vật gây bệnh và vi sinh vật hoại sinh là căn nguyên chủ yêu gay các bệnh nhiễm khuẩn đường hô hap và các bệnh đường hô hap khác như hen phế quan, viêm đường hô hap, dị ứng, ung thư phối. Quá trình vận hành bãi chôn lấp có thé dẫn đến sự thay đổi thành phan vi sinh vật trong không khí theo chiều hướng xấu như: Tăng số lượng các vi khuan gây bệnh; Tăng số lượng và chung loại các loài nam hoại sinh, nam gây bệnh và nắm độc; Tăng nhanh các chất gây dị ứng trong không khí, là yếu tố gây dị ứng đường hô hấp, mũi họng và dị ứng ngoài da; Các phương tiện vận tải có thể là nguyên nhân làm phát tán rộng hơn các vi khuẩn, nắm gây bệnh và các chất gây dị ứng.
Tại các bãi chôn lap, khí gây mùi phát tan trong điều kiện gió, nhiệt độ và độ ẩm thích hợp sẽ gây ảnh hưởng đến khu vực dân cư xung quanh và cả những khu vực cách xa bãi chôn lap. Các khí này có thé gây một số bệnh về đường hô hap, hen suyễn, thậm chí say thai (do khí phosphin).