Chương I: Đặt vấn dé Nêu lên sự cần thiết, mục tiêu và ý nghĩa của đề tài. Chương 2: Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu Nêu nên những cơ sé lý thuyết được dùng để tham khảo trong dé tài, cùng với những phương pháp tiến hành nghiên cứu. Chương 3: Tổng quan Giới thiệu lại chỉ tiết hơn về địa điểm thực hiện nghiên cứu với các thông tin liên hệ với nội dung nghiên cứu. Chương 4: Kết quả nghiên cứu và thảo luận Đưa ra những nhận xét, đánh giá và nội dung phân tích có được từ kết quả nghiên cứu của luận văn.
Chương 5: Kết luận và kiến nghị. Tóm lược lại nội dung nghiên cứu, nêu những ý nổi bật và đưa ra những kiến nghị nhằm thực hiện một cách có hiệu quả các giải pháp trong phân nghiên 2 cứu. Chương 2 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CUU 2.1 Một sốkhái niệm cơ bản 2.1 Nước sinh hoạt, nước thải sinh hoạt Nước sinh hoạt Nước sinh hoạt là nước được con người sử dụng trong các hoạt động sinh hoạt hàng ngày như ăn, uống, tắm, rửa thức ăn, rửa chén bát và dụng cụ nấu ăn, tắm, giặt và các hoạt động khác. Hiện nay, các loại nguồn cung cấp nước sinh hoạt cho nông thôn là: Nguồn nước mưa; Nguồn nước ngầm: nước mạch lộ, giếng khơi, giếng thấm, giếng lọc đạng tia, giếng khoan lấy nước ngầm mạch sâu; Nguôn nước mặt: nước từ sông, suối, ao, hổ, từ các hệ thống kênh mương.
Trong thực tế sử dụng tùy từng điều kiện cụ thể, phong tục tập quán ở từng vùng, người ta có thể kết hợp sử dụng hai hay nhiều loại nguồn nước trên để cấp nước, phục vụ cho gio yêu câu ăn, uống, sinh hoạt ở nông thôn. Nguồn nước mưa Việt Nam có lượng mưa bình quân thuộc loại cao trên thế giới, khoảng 1. Lượng mưa chủ yếu tập trung vào mùa mưa (chiếm tới 85 — 95% tổng lượng mưa). Người ta cho rằng nước mưa là sạch, tỉnh khiết.
Thật ra, vấn để “sạch” chỉ là khái niệm tương đối. Nước mưa ở đầu cơn thường có cấu tạo hóa học phức tạp do việc thu thập các hóa chất và vi sinh vật có sẵn trong không khí do rất nhiều nguyên nhân khác nhau, một trong những nguyên nhân chủ yếu là các chất thải công nghiệp thải ra từ các nhà máy công nghiệp, nhà máy nguyên tử. Ngoài ra, nước mưa còn bị ô nhiễm ở bé mặt của điện tích thu hứng và máng dẫn, ống dẫn bởi bụi bặm, lá cây mục, phân chim chóc và thú vật nhỏ, các phương tiện dự trữ nước mưa bị bẩn, không có nắp đậy hoặc dưới tác dụng của ánh nắng sẽ sinh rêu trong nước và thành bể chứa, nước dé bi ô nhiễm và trở thành môi trường thuận lợi cho vì khuẩn phát triển. Nước mưa ở cuối cơn, nhất là khi mưa lớn, chất lượng nước sẽ tốt hơn.
Tuy nhiên, nước mưa có hàm lượng Flo và lot tương đối thấp so với tiêu chuẩn chất lượng nước dùng cho các chu cầu sinh hoạt thông thường. Nhìn chung, nước mưa vẫn là nguồn nước tốt có thể sử dụng rất thuận lợi cho các nhu cầu sinh hoạt ăn, uốn của dân cư ở các vùng nông thôn. Nguồn nước mặt Do có lượng mưa phong phú nên nước mặt ở Việt Nam nói chung rất phong phú. Nước mặt là dòng chảy của nước mưa, nước chảy ra từ các mạch lộ được tập trung lại, tích đọng thành dòng.
Có thể nói nguồn nước mặt ở Việt Nam là nguồn nước chủ lực phục vụ cho các nhu câu thiết yếu của nhiễu vùng dân cư, đặc biệt là vùng nông thôn. Về cơ bản, nguồn nước mặt là nguồn nước bị ô nhiễm vì trên suốt chiều dài dong chảy bị nhiễm bẩn bởi lá cây thối mục, bởi đất xói mòn, cây cỏ, xác súc vật, nước thai sinh hoạt, thậm chí cả nước thải công nghiệp xả vào. Nguồn nước ngầm Nước ngầm ở Việt Nam khá phong phú về trữ lượng và khá tốt về chất lượng. Đó là nước tổn tại trong các lỗ hổng và khe nứt của đất đá, được tạo thành trong giai đoạn trầm tích đất đá hoặc ngấm xuống từ các lòng khối nước mặt, nước mưa v.
Chất lượng nước dưới đất nói chung là tốt, ít có trường hợp bị nhiễm bẩn hữu cơ, ở nhiều vùng có thể sử dụng trực tiếp, không cần làm sạch. Tuy nhiên nước ngầm thường có lượng khoáng cao, bị nhiễm mặn hoặc có độ cứng cao. Nguồn nước ngầm nhìn chung là tốt, thuận lợi khi khai thác sử dụng cho các mục đích sinh hoạt, ăn uống. Hiện nay, ở nhiều vùng dân cư nông thôn và cả thành thị chỉ dựa vào loại nguồn nước này làm nước sinh hoạt hàng ngày.
Nước thải sinh hoạt Nước thải sinh hoạt là các loại nước thải được hình thành trong quá trình sinh hoạt của con người. Một số các hoạt động dịch vụ hoặc công cộng như bệnh viện, trường học, nhà ăn cũng tạo ra các loại nước thải có thành phan và tính chất tương tự như nước thải sinh hoạt. Theo nguồn gốc hình thành, trong các hộ gia đình có thể có các loại nước thải sau, được thể hiện qua hình 2.1: Sự Hình Thành các Loại Nước Thải trong các Ngôi Nhà hoặc các Công Trình Công Cộng NGUỒN NƯỚC THẢI TỪ CÁC NGÔI NHÀ Nước thải Nước Nước tắm, ` Nướcthải |. Các nước phân tiểu giặt, rửa nhà bếp thai khác Các loại nước thải được hình thành trong hình 2.1 có số lượng, thành phần và tính chất khác nhau.
Để thuận tiện, người ta chia ra làm 2 loại: Nước xám: là các loại nước thải không chứa phân, nước tiểu và các loại thực phẩm từ các thiết bị vệ sinh như bổn tắm, chậu giặt, chậu rửa mặt. Các loại nước thải này chủ yếu chứa các chất lơ lửng, các chất tẩy rửa, nhiều tạp chất vô cơ. Nước đen: là loại nước thải chứa phân, nước tiểu từ các khu vệ sinh (toilet), nước thải từ nhà bếp chứa đâu, mỡ và phế thải thực phẩm từ nhà bếp. Các loại nước thải này thường gây nguy hại đến sức khỏe và dễ làm nhiễm bẩn nguồn nước mặt.
Tuy nhiên rất thích hợp làm phân bón hoặc tạo khí sinh học.2 Mối quan hệ giữa con người và nguồn nước Trong diéu kiện hiện nay, dân số và sức sản xuất phát triển như vũ bão, các hình thái và quy mô tác động khác nhau của con người cũng đã kéo theo làm biến đổi môi trường. Nhiều tác động mới do con người đã làm ảnh hưởng đến thủy quyển. Những ảnh hưởng có thể xảy ra là: Sự khai hoang mở rộng diện tích đất nông nghiệp, kỹ thuật canh tác, cải tạo rừng và các biện pháp khác để điều chỉnh chế độ nước của đất trồng nhằm nâng cao sản xuất nông nghiệp. Việc sử dụng nước ngày càng nhiều cho sinh hoạt, làm các công trình thủy lợi và tưới cho các vùng khô hạn đã làm kiệt quệ trữ lượng nước ngọt tại nhiều vùng khô hạn trên thế giới.
Việc diéu chỉnh dòng chảy của sông, xây dựng hồ chứa khổng 16, thác, thủy điện đã làm phân bế lại các khối nước theo không gian và thời gian. Quá trình đô thị hóa, sự di chuyển những khối lượng lớn đất và nước trong khi khai thác các hầm mỏ và liên quan với nó là sự phá vỡ cân bằng có sẵn giữa nước và nước ngầm. Sự nhiễm bẩn các sông, hồ chứa và một phần nước ngầm, nước thải sinh hoạt và công nghiệp, sự xói mòn đất nông nghiệp và những chất khác nhau từ lãnh thổ này sang lãnh thổ khác và các thành phố khác nhau là mối đe dọa làm giảm chất lượng của tài nguyên nước. Việc cạn kiệt nguồn nước toàn cầu cũng tăng lên.
Tổng sản lượng nước sử dụng giảm.12 Chất lượng nước sinh hoạt và sức khỏe con người Việc cung cấp nước an toàn, đủ và sẵn, phối hợp với vệ sinh lợp lí là những nhu cầu cơ ban, là những yếu tố thiết thực cho việc chăm sóc sức khỏe ban đầu. Chúng có thể đóng góp vào việc giảm nhiều bệnh tiêu hóa đối với các cụm dân cư sống ở vùng nông thôn và các vùng ngoại thị. Các bệnh ở môi trường nước thường do nước bị ô nhiễm bởi các tác nhân gây bệnh thâm nhập có nguồn goc từ động vật hoặc con người. Một khi nước đã À x uống, các tác nhân gây bệnh sẽ thâm nhập vào và nhiễm bệnh.
Việc kiểm soát được các loại bệnh này đồi hỏi phải cải thiện chất lượng nước. Các bệnh do thiếu nước cũng gây cho con người những nguy cơ về sức ng khỏe. Khi con người dùng rất ít nước do nguồn nước thiếu hoặc quá xa khô h sẽ. đảm bảo vệ sinh cá nhân, đồ đạc, dụng cụ bếp núc, quần áo không được sạc Viêm nhiễm da và đau mắt sẽ phát triển nhanh, các bệnh đường ruột dễ dàng lây h do truyền từ người này sang người khác.
Như vậy việc ngăn ngừa những bện là thiếu nước tắm giặt, tùy thuộc vào khả năng cung cấp day đủ lượng nước hơn về chất lượng nước.3 Một sốchỉ tiêu đánh giá chất lượng nước Để đánh giá mức độ 6 nhiễm nguồn nước, người ta thường dùng các thông : số chất lượng môi trường nước: Các thông số vật lý: nhiệt độ, màu, mùi, vị, độ dẫn điện, độ phóng xạ. Các thông số hóa học: độ pH, hàm lượng chất lơ lửng, các chỉ số BOD, COD, Oxy hòa tan, dầu mỡ, Clorua, Sunfat, Amol, Nitrit, Nitrat, Photphas, các nguyên tố vi lượng, kim loại nặng, thuốc trừ sâu, các chất tẩy rửa và nhiều chất độc hại khác. Các thông số sinh học: Coliform, Faecal Streptococus, tổng số vi khuẩn hiếu khí, kị khí. Mỗi một môi trường sinh thái khác nhau thì có mức độ ô nhiễm đặc trưng.
Các giới hạn số lượng hay nồng độ cho phép của các chất được thải vào khí quyển, đất, nước v. phải được xác định thông qua các tiêu chuẩn chất lượng môi trường xung quanh, chủ yếu được dùng để bảo vệ chất lượng nước và không khí. Tiêu chuẩn chất lượng nước quy định những điều kiện tối thiểu mà một nguồn nước cần phải đáp ứng đối với một số thông số cụ thể. Chúng được đặt ra trên cơ sở những tiêu chuẩn khoa học nhằm đánh giá nguy cơ đối với sức khỏe của con người có thể gây ra bởi một liéu lượng tếp xúc đối với chất ô nhiễm nhất định.
Dưới đây là một vài tiêu chuẩn chất lượng môi trường nước cho phép ở Việt Nam. Bang 1: Một Số Trị Số Tiêu Chuẩn Chất Lượng Nước Mặt STT Thông số Pvt Giá trị giới hạn 1 pH 6,5 — 8,5 2 Dé trong m >2. Hàm lượng cặn lơ lửng mgi 20 4 — Hàm lượng Clorua (CT) mg/l 250 5 BOD mg/l B.