CHƯƠNG I. CƠ SO KHOA HỌC, CƠ SỞ PHÁP LÝ VA CƠ SỞ THUC TIEN VE ĐÁNH GIÁ TÁC DONG MOI TRUONG CUA CÁC DỰ ÁN 1. Cơ sở khoa học 1. Khái niệm về đánh giá tác động môi trường Đánh giá tác động môi trường (Environmental Impact Assessment) về bản chất là một quá trình dự báo, đánh giá tác động của một dự án đến môi trường bao gồm môi trường tự nhiên, môi trường kinh tế - xã hội và đưa ra các biện pháp phòng tránh, giảm thiểu tác động xấu lên môi trường.
Cho đến nay đã có nhiều định nghĩa về ĐTM được đưa ra như của Chương trình môi trường Liên hợp quốc (UNEP- 1991), của Ủy ban kinh tế - xã hội Châu Á và Thái Bình đương (ESCAP-1990), của Ngân hang thế giới (WB)., tuy nhiên, cho đến nay chưa có một định nghĩa thông nhất. Luật bảo vệ môi trường được Quốc hội nước Việt Nam thông qua vào tháng 12 năm 1993 có đưa ra khái niệm DTM như sau: "Đánh giá tác động môi trường là quá trình phân tích, đánh giá, dự báo ảnh hưởng đến môi trường của các dự án, quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội của các cơ sở sản xuấtkinh doanh, công trình kinh tế khoa học, kỹ thuật, y tế, văn hoá, xã hội, an ninh quốc phòng và các công trình khác, đề xuất các giải pháp thích hợp về bảo vệ môi trường”. Tác động môi trường là vấn đề cét lõi của những sự quan tâm tới phát triển bền vững. Đánh giá tác động môi trường là một công cụ giúp cho sự phòng ngừa và ngăn chặn những ảnh hưởng tới môi trường trong chính sách môi trường và đây là công cụ lồng ghép trong quá trình kế hoạch hoá về môi trường.
Mục đích của DTM là xem xét bao quát toàn diện và đánh giá những ảnh hưởng môi trường tiềm năng của những dự án công cộng hay cá nhân đã được đề xuất trong lựa chọn ưu tiên thực hiện. Một ĐTM cần phải được xem xét tât cả những ảnh hưởng mong đợi đối với sức khoẻ con người, hệ sinh thái (bao gồm thực vật và động vật), khí hậu và khí quyền. Một DTM cần phải đảm bảo rang tat cả những hậu quả cần phải được xem xét trong suốt quá trình thiết kế, thực hiện và vận hành của dự án. Tương tự, một DTM bao gồm những sự quan tâm của các đảng phải và tô chức (có nghĩa là cộng đồng địa phương, các nhà chính trị, các nhà đầu tư) và lồng ghép Đào Quang Trung MSV: 11134238 Chuyên dé tốt nghiệp 6 GVHD: TS.
Nguyễn Hoàng Nam những ảnh hưởng xã hội liên quan đến những giải pháp về giới hoặc liên quan tới các nhóm xã hội đặc biệt trong các dự án (có nghĩa là tái định cư của người dân bản địa vì sự thay đổi cảnh quan hoặc môi trường, vị trí khảo cô học, đài tưởng niệm) Một DTM đòi hỏi phải ưu tiên cho những dự án là nguyên nhân của những thay đổi đáng kể đối với nguồn tài nguyên có khả năng tái sinh, sự thay đổi có ý nghĩa đối với hoạt động thực tiễn của nghề đánh cá và nghề nông và xem xét tới khai thác tài nguyên thuỷ điện. Các dự án hạ tầng, hoạt động công nghiệp, các dự án đồ bỏ và quản lý chat thải cũng cần một DTM. Tất cả những hậu quả có hại tới môi trường cần phải được tính toán bằng biện pháp giảm nhẹ, biện pháp bảo vệ môi trường hoặc thay thế. Những biện pháp giảm nhẹ này thường được trình bày bằng một kế hoạch quản lý môi trường.
Một kết luận của DTM cần phải được xem xét lại, sau đó các nhà làm kế hoạch dự án có thé thiết kê đê xuât dự án với mục tiêu tôi thiêu hoá tác động tới môi trường. Lich sử hình thành và sự phát triển đánh giá tac động môi trường 1. Trên thế giới Xét về tính chất công việc thì hoạt động đánh giá tác động môi trường (DTM) đã có từ rất lâu. Song, nếu xét về thời gian và công việc này được gọi tên, được thừa nhận thì người ta thường lau năm 1969, năm thông qua Đạo luật chính sách môi trường của Mỹ làm thời điểm ra đời của DTM.
Trong Đạo luật này có những điều quy định, yêu cầu phải tiến hành DTM của các hoạt động lớn, quan trọng, có thé gây tác động đáng kê tới môi trường. Một số thuật ngữ đã được đưa ra liên quan đến quá trình tuân thủ Đạo luật chính sách môi trường của Mỹ. Trong đó, ba thuật ngữ quan trọng nhất là: - Kiểm kê hiện trạng môi trường — Environmental Inventory 1a hoạt động nhăm mô tả toàn diện về môi trường đang tỒn tại ở vùng dự định đặt dự án hoặc vùng có các hoạt động về môi trường xảy ra. Việc kiểm kê phải đề cập đến môi trường lý hóa như: thé nhưỡng, địa chất, địa hình, khí hậu, mặt nước, nước ngầm, chất lượng không khí, chất lượng nước, .; Môi trường sinh học như: các loài động vật, thực vật, đa dạng sinh học, khả năng phát triển, suy thoái của các loài; Môi trường nhân văn như: các điểm khảo cổ, di tích lịch sử, văn hóa, danh lam thắng cảnh, bảo tàng, và thư viện, .; Môi trường kinh tế xã hội như: xu hướng tăng dân sô, phân bô dân sô, mức sông, hệ thông giáo dục, mạng lưới giao thông, cơ sở hạ Đào Quang Trung MSV: 11134238 Chuyên dé tốt nghiệp 7 GVHD: TS.
Nguyễn Hoàng Nam tầng, cấp thoát nước, quản lý rác, dịch vụ công cộng như công an, cứu hỏa, bảo hiểm ý tế. - _ Đánh giá tác động môi trường — Environmental Impact Assessment (EIA) được định nghĩa là sự xác định, đánh giá các tác động (hoặc ảnh hưởng) có thé xay ra của dự án, các quy hoạch phát triển hoặc của các quy định, luật pháp liên quan đến môi trường. Mục đích của DTM trước hết là khuyến khích việc xem xét các khía cạnh của môi trường trong việc lập quy hoạch hoặc ra quyết định đối với các dự án, các hoạt động phát triển đề có thể lựa chọn, thực thi dự án hoạt động có lợi cho môi trường hơn. - _ Tưởng trình tác động môi trưởng — Environmental Impact Statement (EIS) hay bao cáo DTM của một dự án là văn bản chính yếu, tường trình tất cả các kết quả của công tac DTM.
Như vậy, rõ ràng với sự ra đời của Đạo luật chính sách môi trường của Mỹ, mục tiêu, ý nghĩa, thủ tục thi hành DTM đã được xác định bang van ban. Hé thong phap lý cùng với các co quan quản lý, điều hành được ban hành và thành lập đảm bao cho việc thực hiện ĐTM nhanh chóng đi vào nề nếp. Sau Mỹ, DTM đã được áp dụng ở nhiều nước. Nhóm các nước và vùng lãnh thé sớm thực hiện công tác này là: Nhật, Singapo và Hồng Kông (1972), tiếp đến là Canađa(1973), Úc (1974), Đức (1975), Pháp (1976), Philippin (1977), Trung Quốc (1979).
Như vay, không phải chi có các nước lớn có nền công nghiệp phát triển mà ngay cả các nước nhỏ, đang phát trién cũng đã nhận thức được các van đề môi trường và vai trò của DTM trong việc giải quyết các van đề này. Chi trong vòng 20 năm, ĐTM đã được rất nhiều nước xem xét, áp dụng. Tuy nhiên, yêu cầu đối với DTM, thủ tục thực hiện có khác nhau giữa các nước và thường thể hiện ở các điểm sau: loại dự án cần phải DTM, vai trò của cộng đồng trong DTM, thủ tục hành chính, các đặc trưng lược duyệt. Ngoài các quốc gia, các tô chức quốc tế cũng rất quan tâm đến công tac DTM.
Ta có thé ké ra những tổ chức có nhiều đóng góp trong công tác là ngân hang thé giới (WB), ngân hàng phát trién Châu A (ADB), chương trình phát triển quốc tế của Mỹ (USAID), chương trình môi trường của Liên hợp quốc ( UNEP). Các ngân hàng lớn đã có những hướng dan cụ thé cho công tác DTM đối với các dựán vay vốn của mình. Tiếng nói của các ngân hàng có hiệu lực lớn vì họ nắm trong tay nguôn tài chính mà các chủ dự án rât cân đê triên khai dự án của mình. Đào Quang Trung MSV: 11134238 Chuyên dé tốt nghiệp 8 GVHD: TS.
Nguyễn Hoàng Nam Một công việc mà các tô chức này thực hiện rất có hiệu quả là mở các khóa học về ĐTMở nhiều nơi trên thế giới, đặc biệt là ở các nước đang phát triển. Tại Việt Nam Ở Việt Nam, vào thời điểm hình thành DTM, chúng ta chưa có điều kiện tiếp cận lĩnh vực này. Phải đến đầu những năm 80, các nhà khoa học Việt Nam mới tiếp cận công tac DTM thông qua các hội thảo khoa hoc và các khóa dao tạo. Chính phủ Việt Nam cũng sớm nhận thức được vấn đề bảo vệ môi trường và ĐTM nên đã tạo điều kiện cho các cơ quan, cá nhân tiếp cận các lĩnh vực này.
Đầu những năm 80, một nhóm các nhà khoa học Việt Nam, đứng đầu là Giáo sư Lê Thạc Cán đã đến Trung tâm Đông -Tây ở Ha - Oai nước Mỹ nhằm nghiên cứu về luật, chính sách môi trường nói chung và DTM nói riêng. Sau năm 1990, Nhà nước ta cho tiến hành chương trình nghiên cứu môi trường mang mã số kinh tế 02, trong đó có một đề tài trực tiếp nghiên cứu về ĐTM, đề tài mang mã số KT 02 - 16 do Giáo sư Lê Thạc Cán chủ trì. Trong khuôn khổ đề tài này, một số báo cáo DTM mau đã được lập, đáng chú ý là báo cáo DTM của nha máy giấy Bãi Bằng va DTM công trình thuỷ lợi Thạch Nham. Mặc dù chưa có Luật Bảo vệ môi trường và các điều luật về DTM song Nhà nước đã yêu cầu một số dự án phải có báo cáo DTM, chang hạn như công trình thuỷ điện Tri An, nhà máy lọc dầu Thành Tuy Hạ.
Việc biên soạn, thông qua và ban hành Luật Bảo vệ môi trường đã mở ra một bước ngoặt trong công tác bảo vệ môi trường nói chung và DTM nói riêng ở nước ta. Luật đã được Quốc hội thông qua lần đầu tiên vào ngày 27/12/1993 và Chủ tịch nước ra Quyết định công bố số 29L/CTN ngày 10/01/1994. Hơn 10 năm sau đó, Luật Bảo vệ môi trường sửa đổi, bổ sung đã được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam thông qua ngày 29 tháng 01 năm 2005. Trong Luật Bảo vệ môi trường đã quy định rõ các dự án đang hoạt động và dự án muốn hoạt động trên lãnh thé Việt Nam phải lập báo cáo DTM và trình các cấp có thâm quyền xét duyệt.