CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VE ĐÔ THỊ HÓA VÀ BIEN DOI KHÍ HẬU 1. Đô thị hóa Để đi đến khái niệm đô thị hoá các nhà nghiên cứu cũng thường đề cập mộtkhái niệm nữa có quan hệ trực tiếp với khái niệm đô thị hoá. Đó là đô thị là gì? Thường khái niệm này bao gồm một số nội dung những nội dung này vẫn tuỳ thuộc vào quan niệm từng quốc gia.1 Khái niệm đô thị * Dé một vùng nào đó được gọi là đô thị Nhật Bản quan niệm có 4 yêu cầu sau: - Phải có dân số trên 50. - Số nhà ở ở khu vực trung tâm của thành phố phải chiếm tới 60% tổng số nhà của toàn thành phó.
- Số người ngụ cư ở thành phố làm việc trong các ngành công nghiệp thương mại. và các thành viên trong gia đình của họ phải chiếm hơn 60% tổng dân cư. - Cơ sở hạ tầng của thành phố do chính quyền cấp quận quy định phải được cung cập2. * Malaysia quan niệm khu vực đô thị như sau: - Những khu vực hành chính có mật độ nhà cửa dày đặc với 10.000 dân trở lên vào thời điểm điều tra dân số.
- Những khu vực mật độ nhà cửa xây dày đặc tiếp giáp với khu vực hành chính và có ít nhất 60% dân số (tính những người từ 10 tuổi trở lên) tham gia vào các hoạt động phi nông nghiệp và nhà ở của họ có các phương tiện vệ sinh hiện đại. * Ở hàn Quốc một tỉnh có trên 50.000 cư dân sẽ được gọi là "thành phó" (Si) và một khu vực nông thôn có trên 20.000 cư dân sẽ là khu vực dân cư có 10 tên là "Uhr" ( có lẽ do Hàn Quốc đô thị hoá đã đạt mức cao 80% dân cư của Hàn Quốc ở thành phó). * Ở nước ta, “đô thị” được định nghĩa như sau: Đô thị là một không gian cư trú của cộng đồng người sống tập trung và hoạt động trong những khu vực kinh tế phi nông nghiệp (Từ điển Bách Khoa Việt Nam, NXB Hà Nội, 1995). Đô thị là nơi tập trung dân cư, chủ yếu lao động phi nông nghiệp, sống và làm việc theo kiểu thành thị (giáo trình quy hoạch đô thị, Đại học Kiến trúc, Hà Nội).
Đô thi là điểm tập trung dân cư với mật độ cao, chủ yếu là lao động phi nông nghiệp, cơ sở hạ tang thích hợp, là trung tâm tổng hợp hay trung tâm chuyên ngành, có vai trò thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội của cả nước, một vùng lãnh thổ, một tỉnh, một huyện hoặc một vùng trong tỉnh hoặc trong huyện (Thông tư số 31/TTLD, ngày 20/11/1990 của liên Bộ Xây Dựng và Ban tổ chức cán bộ của chính phi). Khái niệm về đô thị có tính tương đối xuất phát từ sự khác nhau về trình độ phát triển kinh tế - xã hội, đặc điểm văn hóa, dân cư. Mỗi nước trên thế giới có quy định riêng tùy theo yêu cầu và khả năng quản lý của mình. Song đa số đều thống nhất lầy các tiêu chuẩn cơ bản sau: -Quy mô dân sé: trên 4000 người sống tập trung -Co cấu lao động phi nông nghiệp: chiếm > 65% -Mat độ dân cư tối thiểu 6000 người/km2 -Co sở hạ tầng: đường sá, hệ thống cấp điện, cấp nước.
đồng bộ và phát triên. Như vậy, ở Việt Nam, đô thị là các thành phó, thị xã, thị tran có dân số từ 4000 người trở lên, trong đó có trên 65% lao động phi nông nghiệp. Cơ sở hạ tầng có thể hoàn chỉnh, đồng bộ hoặc chưa hoàn chỉnh, chưa đồng bộ nhưng phải có một quy hoạch chung cho tương lai. 11 Ngoài khái niệm đô thị trên còn có khái niệm dân cư đô thị.
Trung Quốc cho rằng khi nói trên toàn cục dan đô thị là tổng số dan cư ở thành phố và thị tran. Còn có quan niệm khác dân đô thị là toàn bộ dân cư phi nông nghiệp ở thành phố và thị tran. Ở nước ta dân cư đô thị thường được tính là những người sống và làm việc ở nội thành phần ngoại thành thường là không tính là cư dân đô thị. Nếu phân chia theo nghề nghiệp thì những người làm nông nghiệp không tính vào cư dân đô thị mà xếp vào nông thôn.
Khái niệm đô thị hóa Vi đây là vấn dé quan trọng mang tính chat thời đại nên các quốc gia trên thế giới đều tập trung nghiên cứu. Để có thé đi sâu nghiên cứu đưa ra các giải pháp khả thi tránh tồn hai ít nhất do biến dồi khí hậu gây ra câu hỏi đặt ra là đô thị hoá là gì? Xoay quanh khái niệm này có rất nhiều cách trả lời, nhiều tác giả đã đưa ra ý kiến của mình. Tuy vậy vẫn cần thiết phải đề cập vì hơn ai hết khái niệm này vẫn phụ thuộc vào điều kiện hoàn cảnh từng quốc gia. Các quan niệm khác nhau về đô thị hoá Theo tiến sĩ Guoming Wen đô thị hoá là một quá trình chuyển đổi mang tính lịch sử tư liệu sản xuất và lối sống của con người từ nông thôn vào thành phố.
Thường quá trình này được nhìn nhận như là sự di cư cùa nông dân nông thôn đến các đô thị và quá trình tiếp tục của bản thân các đô thị. Ông cũng cho rằng trong thực tế đô thị hoá là một quá trình phức tạp hơn nhiều. Bởi ến trình này đã bộc lộ không ít dấu hiệu của tình trạng quá nóng và những vấn đề tiềm ân như áp lực gia tăng đối với việc làm và an ninh xã hội tình trạng bong bóng xà phong trong lĩnh vực bat động sản buộc Chính phủ Trung Quốc phải hãm phanh xu hướng này thông qua việc xem xét một cách cân trọng và từng bước kiểm soát đối với quá trình đô thị hoá. 12 TS Toshio Kuroda ( Nhật Bản) cho rằng đô thị hoá trên tổng số dân cư trú ở thành phố hoặc dựa trên quan điểm về các vùng có mật độ dân cư đông.
Nghiên cứu thực tế nước Nhật ông cho rằng đô thị hoá không đơn thuần là một hiện tượng xảy ra sau chiến tranh ở Nhật Bản mà là một quá trình trình diễn ra từ đầu thế kỷ XX. Sau năm 1945 quá trình đô thị hoá diễn ra ở Nhật Bản khá rõ do yêu cầu của việc tái thiết nhanh chóng và tăng trưởng kinh tế đã day nhanh quá trình đô thị hoá. Sự di chuyển của một lượng lớn dân số trẻ từ nông thôn ra thành thị chủ yếu những người đi tản cư về. Quá trình này diễn ra đặc biệt nhanh chóng từ cuối thập kỷ 50 đầu thập kỷ 60 do người nhập cư mong muốn có cuộc sống tốt đẹp hơn.
TS Jung Duk (Hàn Quốc) cho rằng đô thị hoá là sự gia tăngdân số chủ yếu từ nông thôn ra thành thị mà trước đây thế hệ trẻ rời bỏ nông thôn với mục đích tìm kiếm việc làm cơ hội giáo dục và những thú vui tiện nghỉ nơi đô thị trong giai đoạn ban đầu công nghiệp hoá (1967-1975). Ở Việt Nam đô thị hoá đang diễn ra với tốc độ cao đặc biệt ở hai thành phố lớn là thủ đô Hà Nội và thành ph 6H6 Chí Minh. Quá trình này vốn đã có từ lâu trong lịch sử nhưng thật sự tăng tốc từ những năm đổi mới 1986 đến nay. Tốc độ đô thị hoá càng về sau càng lớn.
Tuy vậy việc nghiên cứu về đô thị hoá chưa thực sự quan tâm đúng mức. Trong những công trình đã có thường ít nghiên cứu lý thuyết mà đa số mô tả tổng kết thực trạng đô thị hoá ở một số thành phố. Một số nghiên cứu cụ thể công phu của Viện Nghiên cứu kinh tế thành phố Hồ Chí Minh rất đáng chú ý. Tham khảo các nghiên cứu trong và ngoài nước khái niệm đô thị hoá được đề cập có thể chưa giống nhau nhưng thống nhất ở chỗ có hai thành tố luôn được nhắc tới.
Một là đô thị hoá là sự tăng lên của cư dân đô thị. Sự tăng lên này theo 3 dòng chính: sự tăng dân số tự nhiên của cư dân đô thị dòng di dân từ nông thôn ra thành thị và điều chỉnh về biên giới lãnh thổ hành chính của đô thị. Ba dòng này có vai trò và vị trí khác nhau theo từng giai đoạn lịch sử cụ thể. Ở Malaysia từ 1957 đến 1970 mức tăng dân số tự nhiên chiếm tới 61% 13 trong tổng mức dân số đô thị các yếu tố di cư và phân loại mỗi yếu tố chỉ đóng góp 20%.
Mười năm sau 1980 tăng dân số tự nhiên chỉ còn 40% hai yếu tố di cư và phân loại đã tăng lên mỗi yếu tố 30%. Giai đoạn (1991-2000) tăng dân số tự nhiên vẫn là yếu tố quan trọng nhất làm tăng dân số đô thị đóng góp tới 46% trong khi mức tăng do phân loại đô thị chi chiếm 21% và mức tăng dân sé do di cư là 33%. Ở Trung Quốc theo Guoming Wen giai đoạn từ năm 1971-1978 dân số đô thị tăng thêm 92 triệu người trong đó 49% từ nguồn tăng dân số tự nhiên 41% từ nguồn di cư vào đô thị và chỉ có 10% là nguồn dân bổ sung do thay đồi địa giới hành chính. Giai đoạn từ 1978 đến 2000 dòng di cư chủ đạo từ nông thôn ra thành thị ở giai đoạn này ngoài sự thu hút của đô thị với nông thôn còn có việc Chính phủ Trung Quốc thực hiện chương trình kế hoạch hoá gia đình làm cho mức sinh giảm mạnh nên dân số tăng theo mức sinh tự nhiên giảm xuống.
Người ta tính hai nguồn tăng dân số tự nhiên và nhập cư chiếm tới 3/4 những thay đổi hành chính lãnh thổ là 1⁄4 lượng dân số bổ sung của đô thị. Ở Hàn Quốc theo Jung Duk nguồn gia tăng dân số ở các đô thị chủ yếu là do đi dân từ các khu vực nông thôn lên thành phó đây là nguyên nhân chính làm tăng cư dân đô thị. Trong khi dân số quốc gia Hàn Quốc gia tăng gấp 2 đến 3 lần trong vòng nửa cuối thế kỷ XX thì dân số 6 thành phố lớn nhất tăng bình quân 8 4 lần. Hai là đô thị hoá mở rộng không gian đô thị không gian kiến trúc.
Mở rộng không gian đô thị là một tất yếu đối với các đô thị trên thế giới trong quá trình đô thị hoá. Đó cũng có thể đô thị sát nhập vào đô thị hoặc đô thị hoá mở rộng đô thị ra ngoại thành hoặc lân cận. Mở rộng không gian đô thị cũng mang tính lịch sử tuỳ từng quan niệm của mỗi quốc gia.