Chương 1, tac giả giới thiệu sơ lược về lưu vực sông Bến Hải - Thạch Han, tình hình 10 lụt khu vực nghiên cứu dé từ đó rút ra được ý nghĩa khoa học và thực tiễn khi lựa chọn hướng nghiên cứu của luận án. Cũng trong chương này tác giả đã giới thiệu các khái niệm và định nghĩa về tính dé bị tổn thương cũng như tính 10 dé bị tổn thương do lũ, lụt. Giới thiệu các công trình nghiên cứu về tính dé bị tốn thương và tính dé bị tổn thương do lũ, lụt dé làm cơ sở cho việc thiết lập bộ tiêu chí trong chương 2. Chương 2, tác giả đã giới thiệu các nghiên cứu điển hình về tinh dễ bị tôn thương do ngập lụt.
Cụ thé giới thiệu về bộ tiêu chí đã áp dung trong các nghiên cứu dé từ đó rút ra được mặt hạn chế của nghiên cứu làm cơ sở cho việc cần thiết lập một bộ tiêu chí phù hợp và có tính khả dụng cao. Đề thiết lập được bộ tiêu chí trong nghiên cứu đã tô hợp 3 bộ tiêu chí trong 3 công trình nghiên cứu điển hình của các tác giả là Balica và nnk [67-72], Popocivi và nnk [120], Nguyễn Thanh Son và nnk [40]. Bằng phương pháp lọc để tinh giản bộ tiêu chí tổng hợp ban đầu kết quả thu được bộ tiêu chí giản lược (bộ tiêu chí tổ hợp) gồm 27 biến cho 3 khía cạnh: kinh tế, xã hội và môi trường. Trong chương này, tác giả cũng đã tiến hành tính toán chỉ số dễ bị tốn thương cho 48 xã thuộc lưu vực sông Bến Hải - Thạch Hãn bằng bộ tiêu chí tổ hợp, so sánh kết quả tính toán với kết quả trong đề tài BĐKH.
Từ đó rút ra được kết luận về tính phù hợp khi sử dụng bộ tiêu chí tổ hợp này và làm cơ sở cho việc áp dụng bộ tiêu chí tổ hợp dé đánh giá tính dé bị tổn thương do ngập lụt cho các xã còn lại trên lưu vực sông Bến Hải - Thạch Hãn ở trong chương 3. Chương 3, tác giả áp dụng bộ tiêu chí tổ hợp đã được xác định trong chương 2 dé đánh giá tinh dé bị ton thương cho các xã trên lưu vực sông Bến Hải - Thạch Han. Dé đánh giá tinh dé bị tôn thương đầu tiên cần thiết lập giá trị cho các tiêu chí/ dựa trên cơ sở đữ liệu liên quan. Sử dụng công thức tính dé chuẩn hóa số liệu, tính trọng số cho các tiêu chí/, tính chỉ số dé bị ton thương thành phan và chi số dé bị tôn thương do ngập lụt.
Từ giá trị chỉ số dé bị tổn thương tính được cho các xã, tac giả đã áp dụng phân phối Beta dé phân cap mức độ dễ bị tổn thương cho các xã. Kết quả phân cấp thu được 37 xã có (mức độ dễ bị tổn thương) MĐTT nhỏ, 37 xã có MĐTT trung bình, 29 xã có MĐTT cao, 8 xã có MĐTT rất cao. Từ kết quả phân cấp mức độ tôn thương tác giả đã xây dung ban đồ tính dé bị tổn thương cho các xã trên lưu vực sông Bến Hải - Thạch Hãn bằng phần mềm Mapinfo. Bảng chỉ số và bản đồ tinh dé bị tôn thương do ngập lụt đã được phân tích trong chương nay.
Day là sản phẩm quan trọng hỗ trợ cho các nhà quản lý, các nhà hoạch định chiến lược trong công tác phòng chống và giảm thiểu tác hại do lũ, lụt. TONG QUAN VE KHU VỰC NGHIÊN CỨU, TINH HÌNH LŨ LUT VÀ CÁC NGHIÊN CỨU VE DANH GIÁ TÍNH DE BỊ TON THUONG 1. KHÁI NIỆM, ĐỊNH NGHĨA VỀ TÍNH DE BỊ TON THƯƠNG 1. Khái niệm về tính dễ bị tốn thương Khái niệm về tính dé bị tổn thương đã được đề cập trong nhiều thập niên qua, được hình thành, phát triển từ chỗ chỉ xem xét các khái niệm đơn lẻ về tự nhiên hoặc xã hội với các khái niệm mang tính tổ hop tự nhiên va xã hội.
Đến nay, ngoài các yếu tố tự nhiên, xã hội, khái niệm tính dễ bị tồn thương còn mở rộng xem xét đến các yếu tố kinh tế và môi trườnng. Vì vậy, khái niệm vẫn đang còn được tiếp tục hoàn thiện và phát triết, phụ thuộc vào trình độ phát triển khoa học, công nghệ và nhận thức của cộng đồng. Đã có nhiều hướng nghiên cứu khác nhau nhằm phân loại các thành phan, yếu tố dé đánh giá tinh dé bị tổn thương. Tuy nhiên, việc sử dụng các thuật ngữ liên quan đến tính dé bị ton thương giữa các ngành, lĩnh vực nghiên cứu vẫn còn nhiều tranh cãi trong các cộng đồng, các hướng nghiên cứu khoa học khác nhau.
Các nhà nghiên cứu trong lĩnh vực khoa học tự nhiên thường chú trọng vào khái niệm rủi ro (risk) trong khi các nhà nghiên cứu trong lĩnh vực khoa học xã hội thường nhắc đến thuật ngữ tính dé bị tổn thương (vulnerability). Các khái niệm, nghiên cứu và đánh giá về rủi ro do lũ lụt được nhiều nhà khoa học nghiên cứu nhằm phân tích, đánh giá thiệt hại, đưa ra công cụ dé đánh giá rủi ro lũ lụt, quản lý tổng hợp lũ [3, 50, 62, 63, 66, 80, 90, 109, 111, 119, 136, 140, 146]. Khái niệm tính dé bị tồn thương được các nhà khoa học xã hội găn với nhóm các yếu tố kinh tế xã hội xác định khả năng của cộng đồng trong việc chống chọi với hiện tượng thiên tai còn các nhà khoa học về khí hậu lại thường xem khái niệm tính dễ bị tổn thương như là hàm số của khả năng xuất hiện và các tác động tiềm tàng của các hiện tượng thời tiết và khí hậu có liên quan [65, 74-76, 89, 124]. Trong những nghiên cứu về địa lý ở thập niên 1980, Ramade (1989) đã cho rằng tính dé bị tổn thương chủ yếu bao gồm hệ thống kinh tế - xã hội (luân chuyên hàng hóa, cơ sở hạ tầng, các hoạt động sản xuất) và con người (khả năng ứng phó 12 của cộng đồng), trong khi không đề cập đến mặt tự nhiên, mức độ, tần suất xuất hiện của các hiện tượng thiên tai trực tiếp tác động đến cộng đồng chịu ảnh hưởng đó [121].
Theo cách tiếp cận của ngành khoa học xã hội, thi tinh dễ bị tổn thương lại tập trung vào năng lực của con người dé đối phó với mối nguy hiểm và kịp thời khôi phục lại các thiệt hại và những tốn thất. Cách tiếp cận này đòi hỏi ít kiến thức về hệ thống địa lý vì mục tiêu của nghiên cứu là giải thích các hành vi xã hội. Trong khi theo cách tiếp cận khoa hoc tự nhiên tập trung vào các hệ thong vat ly để xác định tinh dé bi ton thương mà ban đầu ít xét đến những đặc điểm kinh tế - xã hội của hệ thống. Năm 1993, Watts và Bohle trong nghiên cứu [145] đã xem xét đến bối cảnh xã hội và khả năng chống chịu của cộng đồng, bao gồm khả năng phục hồi và tính nhạy của xã hội đối với các mối nguy hiểm.
Cũng năm này, trong nghiên cứu [81], Cutter cho răng tính dễ bị tổn thương là khả năng mà một người hoặc một nhóm người tiếp xúc và bị ảnh hưởng xấu bởi tai biến. Đó là sự tác động giữa vị trí tai biến với tính chất xã hội của cộng đồng. Đến năm 2001 trong công trình [89] Downing đã xem xét đến yếu tố tự nhiên và cho rằng tính dễ bị tổn thương bao gồm sự lộ diện, tính nhạy, khả năng phục hồi của hệ thống dé chống lại các mối nguy hiểm do ảnh hưởng của biến đổi khí hậu. Qua đây ta thấy các định nghĩa về tính dé bị ton thương đã dần được cải thiện thé hiện một cái nhìn toàn diện hơn về tính chat xã hội, liên quan đến lĩnh vực tự nhiên của hệ thống.
Ủy ban liên chính phủ về biến đổi khí hậu (IPCC) trong nhiều năm qua đã nghiên cứu và phát triển các định nghĩa về tinh dé bị ton thương đối với BDKH va nước biển dâng. Ban đầu tính dé bị tổn thương được xác định là mức độ không có khả năng đối phó với những hậu quả của biến đổi khí hậu và nước biển dâng (IPCC, 1992). Tiếp theo, Báo cáo đánh giá lần thứ 2 (IPCC, 1996) đã xác định tính dé bị tén thương là mức độ mà biến đổi khí hậu có thé gây tốn hại hay bat lợi cho hệ thống; khi đó tính dễ bị tôn thương không chỉ phụ thuộc vào độ nhạy của 13 hệ thống mà còn phụ thuộc vào khả năng thích ứng của cộng đồng với điều kiện khí hậu mới. Dinh nghĩa này bao gồm sự lộ diện, tính nhạy, khả năng phục hồi của hệ thống dé chống lại các mối nguy hiểm do ảnh hưởng của biến đổi khí hậu.
Báo cáo đánh giá lần 3 của IPCC thì: “Khái niệm tính dễ bị tốn thương như mức độ dé bị ảnh hưởng của hệ thong hoặc khả năng không thể đối phó được với các tác động của biến đổi khí hậu. Tinh dễ bị tổn thương là một hàm đặc trưng của cường độ, tốc độ biến đổi khí hậu khi hệ thống bị lộ diện, bao gom cả độ nhạy và kha năng thích ứng” [100-103]. Theo tổ chức chiến lược giảm nhẹ thiên tai thế giới (ISDR, 2002): “Tính dễ bị tôn thương được mô tả như là các điều kiện xác định bởi các yêu tô tự nhiên, xã hội, kinh tế và môi trường hay các quá trình, làm tăng tính nhạy của cộng đồng” [50, 99]. Joanne Linnerooth-Bayer (2010), “Tính dé bị tôn thương là khái niệm được hiểu trong một phạm vi rộng và có quy tắc, bao gồm cả địa lý, rủi ro, hiểm họa, kỹ thuật, nhân chủng học và sinh thái” [106].
Khái niệm của Viện giáo dục UNESCO-IHE: “Tinh dé bị tốn thương là mức độ gây hại có thê được xác định trong những những điều kiện nhất định thông qua tính nhạy, sự ton thất và khả năng phục hồi” [151]. Theo báo cáo đánh giá thứ tư (AR4) của IPCC (2007), tinh dé bi ton thương đối với biến đôi khí hậu hoặc một hiểm họa thiên nhiên là mức độ mà một hệ thống dễ bị ảnh hưởng và không thể đối phó với các tác động bat lợi của biến đồi khí hậu, bao gồm cả khí hậu sự biến thiên và cực trị. Tính dé bị tổn thương là một hàm của đặc điểm, độ lớn và tốc độ biến đồi khí hậu và sự thay đôi mà hệ thống tiếp xúc, độ nhạy và khả năng thích ứng của hệ thống. Giữa năm 2001 và 2007 IPCC báo cáo, định nghĩa về tính dé bị tổn thương vẫn giữ nguyên ngoại trừ từ “hoặc” được thay thé bang ‘va’ trong phan đầu tiên của định nghĩa trong báo cáo năm 2007.