Chương 1: Cơ sở lý thuyết về quản lý chat thải ran Chương 2: Thực trạng công tác quản lý chất thải rắn trên địa bàn quận Hoàng Mai, thành phố Hà Nội Chương 3: Khuyến nghị một số giải pháp quản lý chất thải rắn trên địa bàn quận Hoang Mai, thành phó Hà Nội CHUONG 1: CƠ SỞ LY THUYET VE QUAN LY CHAT THAI RAN 1. Téng quan về chất thai rắn đô thị 1. Khái niệm và đặc điểm đô thị Theo PGS.TS Nguyễn Đình Hương và Ths. Nguyễn Hữu Đoàn trong tải liệu “Quản lý đô thị”: “Đô thị là một không gian cư trú của cộng đồng người sống tập trung và hoạt động trong những khu vực kinh tế phi nông nghiệp.
Đô thị là nơi tập trung dân cư, chủ yếu là lao động phi nông nghiệp và làm việc theo kiểu thành thị.” Đô thị là điểm tập trung dân cư với mật độ cao, chủ yếu là lao động phi nông nghiệp, có cơ sở hạ tầng thích hợp, là trung tâm tổng hợp hay trung tâm chuyên ngành có vai trò thúc đây sự phát triển kinh tế xã hội của cả nước, của một miền lãnh thổ, một tỉnh, một huyện, một vùng trong tỉnh hoặc trong huyện. Khái niệm về đô thị có tính tương đối do sự khác nhau về trình độ phát triển kinh tế xã hội, hệ thống dân cư mà mỗi nước có quy định riêng tùy theo yêu cầu và khả năng quản lý của mình. Song phần nhiều đều thống nhất lấy 2 tiêu chuẩn cơ bản là: “Quy mô và mật độ dân số: Quy mô dân số toàn đô thị tối thiểu phải đạt 4.000 người trở lên. Mật độ dân số phù hợp với quy mô, tính chất và đặc điểm của từng loại đô thị và được tính trong phạm vi nội thành, nội thị và khu phố xây dựng tập trung của thị tran.” “Cơ cau lao động: Tỷ lệ lao động phi nông nghiệp được tính trong phạm vi ranh giới nội thành, nội thị, khu vực xây dựng phải đạt tối thiểu 65% so với tổng lao động.” Như vậy, đô thị là các thành phó, thị xã, thị tứ, thi tran, có số dân từ 4.000 người trở lên và trên 65% lao động là phi nông nghiệp.
Việt Nam quy định đô thị là những thành phó, thị tứ, thị xã, thị trấn với tiêu chuẩn về quy mô dân số cao hơn, nhưng cơ cấu lao động phi nông nghiệp thấp hơn. Điều đó xuất phát từ đặc điểm nước ta là một nước đông dân, đất không rộng, đi từ một nước nông nghiệp lên Chủ nghĩa Xã hội. Khái niệm chất thải - chất thải rắn đô thị Theo tác giả Nguyễn Văn Phước trong tài liệu “Giáo trình quản lý và xử lý chất thải rắn”: “Chất thải là bất kỳ loại vật liệu nào mà cá nhân không còn dùng nữa, hoặc chúng không có tác dụng gì với cá nhân đó nữa, chúng cũng không còn tác dụng gì trong bắt cứ hoạt động naò cho sản xuất và dịch vụ.” Chất thải rắn (CTR) được hiểu là tất cả các chất thải phát sinh do các hoạt động của con người và động vật tồn tại ở thé ran, được thải bỏ khi không còn hữu dụng hay khi không muốn dùng nữa. Thuật ngữ chất thải rắn được sử dụng trong Chuyên đề này là bao hàm tất cả các chất răn hỗn hợp thải ra từ cộng đồng dân cư đô thị cũng như các CTR đặc thù từ các ngành dịch vụ, sản xuất công nghiệp, nông nghiệp trên địa bàn quận Hoàng Mai.
Hiện nay, lĩnh vực ô nhiễm CTR đang nhận được sự quan tâm rất lớn không chỉ từ các nhà môi trường mà còn xuất phát từ chính người dân sống tại địa bàn bị ô nhiễm. Do đó, em quyết định tập trung điều tra và nghiên cứu vấn đề CTR đô thị - vấn đề rất bức bối ở quận Hoàng Mai nói riêng và các khu đô thị trên cả nước nói chung. Phân loại CTR 1. Về nguồn gốc Theo tác giả Nguyễn Văn Phước trong giáo trình “Giáo trình quản lý và xử lý chất thai rắn”, chất thai rắn có thé phát sinh từ các nguồn: Nguồn sinh hoạt: Phát sinh từ hộ gia đình, các biệt thự và các căn hộ chung cư.
Thành phần chủ yếu bao gồm: Thực phẩm dư thừa, bao bì hàng hóa (bằng giấy, 20, cát tông, nhựa, thiếc, nhôm, thủy tinh), đồ dùng điện tử, vật dụng hư hỏng (đồ gia dụng, bóng đèn, đồ nhựa). Nguồn từ các khu trung tâm thương mại: Nhà kho, quán ăn, văn phòng, khách sạn, nhà in, trạm xăng dầu, gara. Thanh phần chủ yếu bao gồm: Giấy, cát tông, plastic, 20, thức ăn thừa, thuỷ tinh, kim loại, các loại chất thải đặc biệt (lốp xe), các chất thải độc hại khác. Nguồn từ các công sở: Cơ quan, trường học, bệnh viện, các cơ quan hành chính.
Thành phần bao gồm: Giấy, cát tông, nhựa, gỗ, thức ăn thừa, thuỷ tinh, kim loại. Ngoài ra CTR y tế từ bệnh viện phát sinh từ hoạt động khám chữa bệnh, điều trị bệnh vì vậy chất thải y tế trở thành phức tạp; nó bao gồm các loại bệnh phẩm, kim tiêm, chai lọ chứa thuốc. Nguồn từ hoạt động giao thông: Phát sinh từ các hoạt động xây dựng và tháo dỡ công trình xây dựng, giao thông vận tải như: Nâng cấp mở rộng đường phó, cao ốc, xây dựng di dời nhà cửa. Từ đó sinh ra các loại chat thải như dat, đá, bê tông, gạch ngói, gỗ, sắt thép.
Nguồn từ các hoạt động công nghiệp: Các nhà máy, công xưởng sản xuất đa phần đều tạo ra các phế liệu sau quá trình sản xuất sản phẩm. Hoạt động công nghiệp sản xuất lĩnh vực thực phẩm/đồ uống thường tạo ra phế phẩm có thể tiêu hủy. Tuy nhiên phế liệu của các nhà máy sản xuất vật liệu xây dựng/ sắt thép/ may mặc/ đồ gia dụng thường tạo ra chất thải răn độc hại công nghiệp, rất khó phân hủy trong môi trường. Nguồn từ các hoạt động nông nghiệp: Bao bì, vỏ lọ thuốc bảo vệ thực vật, thuốc trừ sâu, thuốc diệt cỏ.
Các chat thải rắn là các phụ phẩm nông nghiệp/ công nghiệp phát sinh trong và sau quá trình thu hoạch/ sản xuất như: Bã mía, rơm rạ, vỏ hoa quả khô. Nguồn từ các hoạt động xây dựng đô thị: Việc xây dựng các công trình nhà ở, chung cư, nhà công vụ. Việc nâng cấp, bảo dưỡng, bảo trì các hệ thống đường xá, phương tiện công cộng là nguồn phát sinh lượng phế thải xây dựng và phế thải công nghiệp. Nguồn từ trạm xử lý nước thải và từ các đường cống thoát nước của thành phố, khu, cụm dân cư.
Nguồn nước thải trước khi đưa qua các trạm xử lý thường chứa rất nhiều loại chất thải rắn sinh hoạt lắng cặn (bao bì thực phẩm, vỏ hạt quả, túi nilon.) vô tình sót lại sau quá trình lọc. Day là nguồn chat thải rắn cũng khá phức tạp của các đô thị. Các nguồn phát sinh chat thải rắn Nơi vui chơi, giải trí dan cư hoạt động xử lý nghiệp, nhà máy rác thải Nguồn: Giáo trình quản lý và xử lý chất thải rắn - Nguyễn Văn Phước, 2009 1. Phân loại CTR Hiện nay chúng ta có thê sử dụng nhiều phương pháp đề phân loại CTR.
Tuy nhiên, theo tác giả Nguyễn Văn Phước trong giáo trình “Giáo trình quản lý và xử lý chất thải rắn”, chất thải rắn được phân theo các phương pháp: a. Theo bản chất nguồn tạo thành Chat thải ran sinh hoạt: Là các vật chất sản sinh ra trong quá trình định cư và phát triển của người dân; và chủ yếu tạo thành trong các khu dân cư, cơ quan, trường học cũng như những trung tâm dịch vụ giải trí khác. Chất thải rắn công nghiệp: Là vật chất sản sinh ra trong quá trình con người khai thác, sàng lọc, sản xuất và phân phối các loại sản phẩm. Các loại chất thải rắn công nghiệp phô biến có thê kê đến là: - Chất thải ran là các phế thải từ nhiên liệu phục vụ cho quá trình sản xuất: Tro, than, xi than trong các nhà máy nhiệt điện, công xưởng sang tuyên than.
- Chất thải rắn là các phế thải trong quá trình sản xuất: Các loại phế phẩm như vảy cá, xương cá từ nhà máy sản xuất, chế biến đồ hộp thủy hải sản. Chất thải rắn là phế liệu phát sinh trong hầu hết các nhà máy sản xuất hiện nay. Đặc biệt là sản xuất các loại thực phẩm/ đỗ gia dụng/ thiết bị công nghiệp- kỹ thuật. - Chất thải rắn là các bao bì sau khi sản xuất sản phẩm: Bao bì giấy, nilon, bao tải từ các nhà máy sản xuất bao bì sản phẩm, sản xuất thực phẩm/ đồ uống.
- Chất thải ran xây dựng: Là toàn bộ các loại rác thải bao gồm đất đá, xi măng sau khi đã tháo dỡ, thi công xây dựng. Những nguyên vật liệu đã sử dụng trong quá trình phá bỏ công trình; phế thải khi thực hiện đào móng công trình xây dựng. Các vật liệu như kim loại, chất dẻo. Chất thải từ các nhà máy xử lý: Chất thải sau khi hệ thống đã tiến hành xử lý nước thải, nhà máy xử lý chất thải công nghiệp.
Chất thải rắn nông nghiệp: Bao gồm những phế thải đã được loại bỏ sau quá trình sản xuất như các loại rơm rạ, cây trồng. Đồng thời trong quá trình trồng trọt, các loại bao bì, vỏ thuốc bảo vệ thực vật, thuốc trừ sâu, thuốc diệt cỏ b. Theo mức độ nguy hại Theo tác giả Nguyễn Văn Phước trong giáo trình “Giáo trình quản lý và xử lý chất thải rắn”: Chất thải rắn nguy hại là gồm toàn bộ những loại hóa chất có thể gây ra phản ứng hóa học và hóa chất độc hại cũng như những phế thải sinh học dễ bốc mùi, dễ cháy nỗ hoặc những loại phế thải phóng xạ, phế thải nhiễm khuân hoặc có nguy cơ lây lan cao gây đe dọa tới sức khỏe của người dân và sinh vật xung quanh. Chất thải y tế nguy hại: Là những chất thải phát sinh chủ yếu trong các hoạt động y tế, mà trong đó có chứa nhiều hợp chất có đặc tính nguy hại trực tiếp tới môi trường và sức khỏe cộng đồng.
Chất thải không nguy hại: Là những loại phế thải không bao gồm các chất hay hợp chất có những đặc tính nguy hại tới sức khỏe con người. Theo Luật Bảo vệ Môi trường Theo “Luật Bảo vệ Môi trường Việt Nam 2015” - NXB Chính trị quốc gia, chất thải ran được phân thành 2 loại: Chất thai có thé dùng dé tái chế, tái sử dung Chất thải phải tiêu hủy hoặc chôn lấp 1. Tác động của CTR đô thị đến môi trường Thực tế hiện nay việc thải bỏ rác có sự phân loại từ nơi phát sinh không được phô biến rộng rãi ở Việt Nam.