MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn đề tài Trong thời đại hiện nay, cùng với sự phát triển về KT-XH của quốc gia, các khu đô thị đang càng ngày được mở rộng và phát triển triển một cách nhanh chóng. Điều này vừa góp phan cho sự tăng trưởng kinh tế, vừa tạo ra một lượng lớn CTR sinh hoạt làm ảnh hưởng tiêu cực đến môi trường và đời sống của con người. Môi trường tự nhiên đã bị khai thác và tác động rất nhiều bởi con người kéo theo thực trạng các nguồn tài nguyên đang ngày càng cạn kiệt và suy thoái mạnh.
Vấn dé về 6 nhiễm và suy thoái môi trường đang ngày càng trở nên đáng quan ngại hơn ở nhiều nơi. Và CTR là một trong những nguyên nhân chính gây ô nhiễm vô cùng nghiêm trọng đến môi trường, đồng thời gây ra những hệ quả nghiêm trọng đến sức khỏe cộng đồng và sự phát triển bền vững của quốc gia. Tổng khối lượng CTR được thải ra trên cả nước mỗi năm rơi vào 29 triệu tấn và theo dự báo thì con số này sẽ còn tăng cao trong thập kỷ tới. Lượng CTR phát thai ra từ các hoạt động, sinh hoạt thường nhật của con người ngày một da dang hơn về thành phần cũng như độc hại hơn về tính chat.
Hiện nay, tại những khu đô thị lớn của Việt Nam, vấn đề CTR vẫn đang rất nhức nhối và là một trong các nguyên nhân chủ yếu gây ra tình trạng ô nhiễm môi trường nghiêm trọng. Hải Phòng là một trong những thành phó lớn của Việt Nam, và dé vươn lên trở thành khu vực đô thị hàng đầu của quốc gia, Tp. Hải Phòng vẫn đang nỗ lực từng ngày để phát triển kinh tế, tăng cường xây dựng, mở rộng mối quan hệ hợp tác kinh tế trong và ngoài nước. Song song với sự phát triển toàn diện, Tp.
Hải Phòng vẫn đang phải đương đầu với những tình trạng phô biến như tệ nạn xã hội, bùng nổ dân số, và đặc biệt là vấn đề môi trường bị 6 nhiễm. Trước tình hình này, việc xử lý CTR đang được thành phó đặc biệt quan tâm đến và được xem là vấn đề cấp thiết nhất hiện nay. Để đảm bảo cho sự phát triển ổn định và bền vững của đô thị, van dé QLCTRSH cần được xem xét trên phương diện tổng quát, không chỉ đơn thuần là công tác tô chức, xây dựng các BCL hợp vệ sinh mà còn cần phải nhìn nhận trên nhiều khía cạnh khác nhau. Mặt khác việc QLCTRSH muốn có được hiệu quả một cách tốt nhất thì việc đón đầu được sự phát triển là vô cùng quan trọng, chứ không nên chạy đua theo xu thế phát triển đô thị như thời gian hiện nay.
Quận Kiến An hiện đang thuộc môt trong bảy quận lớn nhất ở Tp. Hải Phòng, và đang trong quá trình công nghiệp hóa - hiện đại hóa. Vì vậy, điều này đã tạo điều kiện tăng thêm nhiều việc làm thiết thực và chất lượng cuộc sống của người dân cũng được nâng cao. Mặt khác, đi cùng sự phát triển đó, quận Kiến An cũng đang phải đối mặt với những thách thức lớn về vấn đề bảo vệ môi trường, nhất là công tác QLCTRSH.
Tuy vậy, việc phòng ngừa và làm giảm, phát sinh và phân loại rác thải, tái chế, tái sử dụng cùng với việc giảm thiểu khối lượng CTRSH chôn lấp đề đảm bảo cho sự an toàn về xã hội cũng như sự tối ưu về kinh tế - kĩ thuật, và đặc biệt là vấn đề liên quan đên môi trường chưa thực sự được quan tâm. Đây thực sự là vấn đề rất đau đầu ở các đô thị Việt Nam, đặc biệt là khi lượng CTR ngày một tăng cao trong khi đó các mô hình thu gom, xử lí rác thải chưa có nhiều cải thiện đáng ké. Luật BVMT 2020 có nhiều quy định mới về trách nhiệm của các bên trong việc thu gom, phân loại và xử lí CTR sinh hoạt. Vì thế, quận Kiến An cần phải đưa ra những chính sách hợp lý theo từng địa bàn cụ thé dé dần chuyền sang mô hình mới, đáp ứng yêu cầu của luật khi đưa vào áp dụng trong thực tiễn.
Để nâng cao sự phát triển bền vững của đô thị, QLCTRSH một cách có hiệu quả và tiết kiệm tối ưu hóa nguồn tài nguyên và thực hiện mục tiêu phát triển bền vững, gắn phát triển KT-XH với nhiệm vụ bảo vệ môi trường, việc chọn đề tài “Thực trạng quản lý chất thải răn sinh hoạt trên địa bàn quận Kiến An Thành phó Hải Phòng” là vô cùng cần thiết và cấp bách trong thời gian hiện nay. Đề thực hiện tốt “Chiến lược quốc gia về quản lý tổng hợp CTR đến năm 2025, tầm nhìn đến năm 2050”, Chính phủ đã ban hành “Nghị định số 59/2007/NĐ-CP” ngày 09 tháng 04 năm 2007 của về QLCTR dé đóng góp vào sự cải thiện hiệu qua van đề QLCTRSH tại địa phương. Mục tiêu nghiên cứu e_ Mục tiêu tông quát Mục tiêu nghiên cứu tông quát là tìm hiểu thực trạng QLCTRSHở thành phố Hải Phòng cụ thé là trên địa bàn quận Kiến An dé từ đó, đưa ra các kiến nghị và đề xuất quản lý CTRSH nhăm xây dựng hệ thống QLCTRSH một cách hiện đại và đồng thời nâng cao hiệu quả QLCTRSH trên địa bàn quận Kiến An. e_ Mục tiêu tổng thé Thứ nhất, đánh giá thực trạng công tác QLCTRSH và điều tra về khối lượng, thành phần, mức độ phát sinh và tác động của CTRSH ở quận Kiến An.
Đồng thời tìm hiểu những thuận lợi, khó khăn và thách thức về công tác QLCTRSH và việc thu gom, xử lý và vận chuyển CTRSH trên địa bàn quận Kiến An. Thứ hai, nâng cao vấn đề nhận thức trong cộng đồng về tổng hợp và quản lý CTRSH, hình thành lối sống thân thiện với môi trường. Đánh giá tác động của CTRSH dén sức khỏe của dân cu va tới môi trường xung quanh. Thứ ba, nghiên cứu cơ sở khoa học và thực tiễn kết hợp với kinh nghiệm về QLCTRSH ở Việt Nam và các nước trên thế giới hiện nay.
Từ đó, đưa ra các giải pháp kiến nghị trong ngắn hạn và lâu dài dé giải quyết các van dé còn tồn tại trong công tác QLCTRSH trên địa bàn Quận Kiến An, đồng thời đóng góp vào sự phát triển bền vững của quận Kiến An cũng như của Hải Phòng. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu Về đối tượng nghiên cứu, chuyên đề hướng đến đối tượng Quản lý và xử lý CTRSH trên địa bàn quận Kiến An - Hải Phòng. Về phạm vi nghiên cứu, chuyên đề tập trung nghiên cứu trên địa bàn quận Kiến An, thành phố Hải Phòng (với toàn bộ diện tích tự nhiên 29,6 km2, gồm 10 phường trực thuộc). Phương pháp nghiên cứu Một là, phương pháp điều tra và khảo sát thực địa: Điều tra, khảo sát bổ sung cập nhật thông tin về hiện trạng môi trường quận.
Hai là, phương pháp tổng hợp, dự báo, đánh giá: Phương pháp xử lý số liệu được sử dụng để tính toán giá tri trung bình năm trên cơ sở số liệu thu thập được từ chương trình quan trắc định kỳ do Trung tâm Quan trắc môi trường thực hiện, số liệu thu thập được từ các trạm quan trắc môi trường quốc gia, số liệu quan trắc trong chương trình quan trắc tuân thủ định kỳ của các cơ sở sản xuất, kinh doanh dịch vụ trên địa bàn thành phố. Sử dụng phép toán trung bình cộng hoặc trung bình nhân đối với các kết quả quan trắc thu thập được có biến động lớn. Ba là, phương pháp thống kê, so sánh: Thống kê, phân loại, đánh giá các thông tin thu thập được. Loại bỏ những thông tin số liệu bất thường.
Thực hiện việc phân loại và thong kê các số liệu thu thập được theo chuỗi các năm nhăm mục đích đánh giá diễn biến của vấn đề theo thời gian. Chia nhóm, thống kê theo khu vực nhằm thực hiện việc phân tích, đánh giá và so sánh các vấn đề theo không gian (các vùng, khu vực). Bốn là, phương pháp phân tích và tong hợp hệ thống: Sử dụng phương pháp này sẽ giúp đánh giá các thông tin một cách toàn diện trên cùng một chuẩn mực. Quá trình liên kết, ngoại suy và phân tích nhận thức từ các môn khoa học khác như tự nhiên, xã hội, nghiên cứu, tìm hiểu mối quan hệ nhân quả bên trong và giữa các hệ thong.
Cách tiếp cận của phương pháp đánh giá này bao gồm mô hình hóa, phân tích các kịch bản, mô phỏng hoạt động, đánh giá chất lượng và tích hợp các thành phần dựa trên những kinh nghiệm va von hiệu biệt sẵn có. Năm là, phương pháp xử lý số liệu: Phương pháp này được sử dụng để tính toán giá trị trung bình năm trên cơ sở số liệu thu thập được từ chương trình quan trắc định kỳ do Trung tâm Quan trắc môi trường thực hiện, số liệu quan trắc trong chương trình quan trắc tuân thủ định kỳ của các đơn vi sản xuất, kinh doanh, thương mại và dịch vụ trên địa bàn quận. Sử dụng phép toán trung bình cộng hoặc trung bình nhân đối với các kết quả quan trắc thu thập được có biến động lớn. Ý nghĩa thực tiễn Việc nghiên cứu về thực trạng QLCTRSH trên địa bàn quận Kiến An - Thành phó Hải Phòng không chỉ giúp nâng cao hiệu quả công tác quản lý như phân loại, thu gom, vận chuyên, tái sử dụng, tái chế và xử lý CTRSH 6 quận Kiến An mà còn góp phần bảo vệ môi trường và đóng góp vào sự phát triển bền vững của đô thị.
Từ đó, một số giải pháp được đề ra dựa trên cơ sở khoa học để công tác QLCTRSH có hiệu quả, sao cho phù hợp với điều kiện và tình hình KT-XH tại quận Kiến An và cũng là những bài học kinh nghiệm dé có thể phổ biến cho các quận, huyện khác trong thành phố tham khảo, học tập. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THUC TIEN QUAN LÝ CHAT THAI RAN SINH HOẠT ĐÔ THỊ 1. Khái niệm chất thải rắn Theo UNEP (2005), “chất thải là một nguyên liệu nào đó đã bị loại bỏ, sắp bị loại bỏ hoặc có yêu cầu bị loại bỏ”. Theo Nguyễn Đình Hương (2006), “chất thải được hiểu là bất kỳ loại vật liệu nào mà cá nhân không còn dùng nữa, chúng không còn có tác dụng gi với cá nhân đó và được loại thải ra môi trường”.
Theo Luật Bảo vệ Môi trường (2015) cho rằng “chất thải là vật chất được thải ra từ sản xuất, kinh doanh, dịch vụ, sinh hoạt hoặc hoạt động khác”. Theo Pfeffer (1992) “chat thải ran là bat cứ vật liệu nào ở thé rắn nằm trong dòng chảy nguyên liệu bị xã hội loại bỏ”.