Chương I: Tổng quan tình hình nghiên cứu, lý luận vé tạo động lực đối với người lao động trong doanh nghiệp và kinh nghiệm tại một số công ty/doanh nghiệp Chương II: Phương pháp và thiết kế nghiên cứu Chương HT. Phan tích thực trạng hoạt động tạo động lực đối với người lao động tại Xí nghiệp Môi trường đô thị huyện Sóc Sơn - Thành phố Hà Nội. Chương IV: Phương hướng và giải pháp để tiếp tục tạo động lực đối với người lao động tại Xí nghiệp Môi trường đô thị huyện Sóc Sơn - Thành phố Hà Nội. CHUONG 1 TONG QUAN TINH HÌNH NGHIÊN CUU LY LUAN VE TAO DONG LUC DOI VOI NGUOI LAO DONG TRONG DOANH NGHIEP VA KINH NGHIEM THUC TIEN TAI MOT SO CONG TY/DOANH NGHIEP 1.1 Tong quan tình hình nghiên cứu Nguồn nhân lực là một nguồn lực có ý thức, có quan niệm giá trị.
Khi một người nao đó tự nguyện làm việc thì anh ta sẽ làm việc với tinh thần chủ động, họ sẽ khắc phục khó khăn hoàn thành công việc một cách sáng tao va cảm thấy hạnh phúc khi công việc thành công. Ngược lại, nếu một người nào đó làm việc một cách miễn cưỡng thì họ sẽ tỏ ra ué oai, hoàn thành công việc với hiệu suất thấp. từ đó cho thấy làm thế nào để động viên tính tích cực của cán bộ công nhân viên người lao động, tăng cường sự đồng cảm của họ đối với doanh nghiệp khiến họ có thái độ tốt, là một nhiệm vụ có yếu tố quyết định trong công tác quản lý nguồn nhân lực. Việc xây dựng một chính sách đúng đắn đi liền với các phương thức thực hiện hiệu quả, mang lại lợi ích lâu dài, trong đó chú trọng đến lợi ích và nhu cầu của người lao động, tiền lương, cơ hội phát triển nghề nghiệp, nhu cầu giao tiếp.
sẽ có tác động tạo ra động lực làm việc cho cán bộ công nhân viên người lao động. Lam thé nào dé tạo ra động lực cho người lao động là vấn đề được rất nhiều nhà nghiên cứu và nhà quản lý quan tâm nhằm tìm ra những giải pháp tích cực nhất nâng cao động lực làm việc, trên cơ sở đó nâng cao năng suất lao động, nâng cao hiệu quả công việc. Tạo động lực đối với người lao động là vấn đề được con người quan tâm nghiên cứu từ lâu, trên thế giới đã hình thành các học thuyết tạo động lực kinh điển như : Học thuyết hệ thống nhu cầu của Abraham Maslow, Học thuyết hệ thống hai yếu tô của Frederic Herzberg, Học thuyết tăng cường tính tích cực của Burrhus Frederic Skinner, Học thuyết kỳ vọng cua Victor Vroom, Học thuyết công bằng của John Stacy Adam, Học thuyết đặt mục tiêu của Edwin Locke. Các học thuyết này được áp dụng trên nhiều lĩnh vực của đời sống xã hội, kinh tế, quân sự, y học, và nhiều lĩnh vực khác.
Ngày nay vấn đề tạo động lực đối với người lao động vẫn tiếp tục được các nhà khoa học, nhà nghiên cứu, học giả trên thế giới tiếp tục nghiên cứu, phát triển. Trong cuốn “Quản lý nguồn nhân lực”, NXB chính trị Quốc gia, 1995 Paul Hersey và Ken Blanc Hard bàn về vấn đề tạo động lực làm việc từ cách tiếp cận tâm lý học hành vi. Các tác giả tập trung nhấn mạnh vai trò của việc tạo động lực làm việc, trên cơ sở nghiên cứu thực nghiệm và đưa ra các ví dụ điển hình giúp nhà quản lý áp dụng và phân tích, tìm hiểu hành vi của người lao động, qua đó khăng định. “Phong cách lãnh đạo là mẫu hành vi mà người lãnh đạo quản lý thê hiện khi cố gắng gây ảnh hưởng tới hoạt động của những người khác theo nhận thức của người đó” Trong cuốn “Giáo trình quản lý nguồn nhân lực trong tổ chức”, tác giả PGS.
Nguyễn Ngọc Quân và Ths. Nguyễn Tan Thịnh, Nhà xuất bản giáo dục Việt Nam, 2012, giáo trình dành tron vẹn một chương (chương VII) nói về tạo động lực qua đó chỉ ra rất rõ các yếu tố tạo động lực trong lao động là những yếu tố thuộc về con người, bao gồm hệ thống nhu cầu của cá nhân, các mục tiêu giá trị cá nhân, thái độ trong lao động , khả năng và kỹ năng lao động, và ké ra các đặc điểm này của mỗi người thường rất khác nhau, nên sự thúc đây (hành vi có động lực) đối với mỗi người cũng không giống nhau. Những yếu tổ thuộc về môi trường sống làm việc học tập của con người (đặc điểm của công việc và đặc điểm thực tế của tổ chức) bao gồm: Công việc(hay nhiệm vụ lao động), hệ thống kỹ thuật, công nghệ, các điều kiện lao động, văn hoá của tô chức, kiêu lãnh đạo, câu trúc của tô chức (cơ câu tô chức bộ máy quản lý), các chính sách về nhân sự, sự thực hiện các chính sách đó cũng như các yếu tố xã hội và thê chế xã hội, những đặc điểm này có thể tạo ra sự thúc đây ít hay nhiều gây ra sự ức chế đối với người lao độngtrong từng đơn vị. Qua đó tìm ra phương thức tạo động lực đối với người lao động thông qua:Xác định nhiệm vụ và tiêu chuẩn thực hiện công việc; Tạo điều kiện thuận lợi dé người lao động hoàn thành công việc;Kích thích lao động bằng vật chất và tinh thần; Xây dung các chương trình hành động.
Trong cuốn “Quản trị nguồn nhân lực”, nhà xuất bản Phương Đông, 2011, tác giả TS. Bùi Văn Danh, MBA. Nguyễn Văn Dung và Ths. Lê Quang Khôi.
Các tác giả đã đánh giá nguồn nhân lực đã trở thành nguồn lực quan trọng đối với sự thành công của tô chức, chính con người trong tô chức sẽ tạo lợi thế cạnh tranh, bởi vì sự tăng trưởng của các doanh nghiệp và của nên kinh tế quốc gia trong nền kinh tế hội nhập toàn cầu hiện nay cạnh tranh trên cơ sở năng suất, chất lượng, hiệu quả của sản pham và dịch vụ. Sự sáng tạo và nền kinh tế tri thức, công nghệ thông tin, viễn thông, đã quyết định năng lực cạnh tranh cho doanh nghiệp và chất lượng tăng trưởng quốc gia, vì yếu tố tri thức và sáng tạo đã đưa doanh nghiệp và quốc gia đi vào quỹ đạo tăng trưởng bền vững. Vai trò của nguồn nhân lực có tính then chốt trong điều hành và cải thiện tổng thé các quy trình dé tăng năng suất tổng hợp, từ đó đánh giá nhận thức và coi trọng quá trình tạo động lực dé phát huy tốt nhất khả năng va sáng tạo của nguồn nhân lực. Trong cuốn “Giáo trình Quản trị nhân lực”, Nhà xuất bản Đại học kinh tế quốc dân, 2012, tác giả PGS.
Nguyễn Ngọc Quân và Ths. Nguyễn Vân Điềm, các tác giả khang định một tô chức chi có thé dat được năng suất cao khi có những nhân viên làm việc tích cực và sáng tạo, điều đó phụ thuộc vào cách thức và phương pháp mà người quản lý đó sử dung dé tạo động lực lao động cho nhân viên, việc tăng cường tạo động lực đôi với nhân viên sẽ dẫn đến nâng cao thành tích lao động và các thắng lợi lớn hơn của tổ chức. Các tác giả nhấn mạnh: Để tạo động lực cho người lao động người quản lý cần hướng hoạt động của mình vào ba lĩnh vực then chốt là: Xác định nhiệm vụ và tiêu chuẩn thực hiện công việc cho nhân viên, xác định mục tiêu hoạt động của tô chức và làm cho người lao động hiểu rõ mục tiêu đó,xác định nhiệm vụ cụ thể và các tiêu chuẩn thực hiệncông việc cho người lao động (Thể hiện thông qua các bản mô tả công việc và tiêu chuẩn thực hiện công việc), đánh giá thường xuyên và công bằng mức độ hoàn thành nhiệm vụ của người lao động từ đó giúp họ làm việc tốt hơn; Tạo điều kiện thuận lợi để người lao động hoàn thành nhiệm vụ (Loại trừ các trở ngại cho thực hiệ công việc của người lao động, cung cấp các điều kiện cần thiết cho công việc, tuyên chọn và bố trí người phù hợp dé thực hiện công việc); Kích thích lao động (Sử dụng công cụ tiền lương như một công cụ cơ bản, sử dụng như một đòn bay manh mẽ nhất dé kích thích người lao động, sử dụng các hình thức khuyến khích tai chính như tăng lương, tiền thưởng. và các hình thức khuyến khích phi tài chính dé thoả mạn các nhu cầu tinh thần của người lao động như khen ngợi, tô chức thi đua, tạo cơ hội học tập phát triển, cơ hội nâng cao trách nhiệm trong công việc, cơ hội thăng tiến.
Giáo trình Quản trị kinh doanh, tác giả Ths. Đỗ Công Nông, Nhà xuất bản Tài chính, năm 2010, trong công tác quản trị nguồn nhân lực đòi hỏi phải tạo ra và duy trì một môi trường mà ở đó mọi người lao động làm việc cùng nhau trong các nhóm dé hoàn thành mục tiêu chung. Nhưng một nhà quản tri sẽ không thé làm được việc đó nếu không biết cái gì làm cho mọi người tiến hành được công việc, cái gì là động lực thúc day họ thành công. Vi vậy, dé có thể tác động lên con người một cách hiệu quả, trước hết cần nghiên cứu những động cơ chi phối những hành vi và hoạt động của con người, từ đó biết cách tác động lên những động cơ đó nhằm thúc đây hoạt động của người lao động trong doanh nghiệp.
Trong cuốn “Quản lý công”, nhà xuất bản Chính trị - Hành chính, năm 2013, tác giả TS.Bùi Huy Khiên, TS. Nguyễn Thị Vân Hương, đánh giá từ thực tiễn cho thấy chất lượng và hiệu quả hoạt động của cán bộ, công chức không chỉ phụ thuộc vào năng lực thực thi công vụ của họ mà còn phụ thuộc rất nhiều vào đạo đức công vụ, vào động cơ lam việc của họ. Động cơ làm việc của cán bộ công chức được hiểu là sức mạnh bên trong thúc day ho lam việc, chỉ dao hành vi va gia tăng lòng quyết tâm, bền bi, giành lấy mục tiêu mà họ đặt ra. Động cơ làm việc của cán bộ công chức được thấy ro trong xu hướng hoạt động, ý thức trách nhiệm cũng như tính tích cực hoạt động của ho đối với những chức năng, nhiệm vụ ma ho đảm nhiệm trong công việc.
Những cán bộ công chức có xu hướng hoạt động vì xã hội, vì tô chức sẽ luôn đặt lợi ích của tổ chức lên trên lợi ích của cá nhân, biết hy sinh lợi ích của cá nhân vì lợi ích chung của tập thể, và ngược lại. Cán bộ công chức có động cơ làm việc đúng đắn sẽ thúc day họ có ý thức trách nhiệm và luôn cố gắng công hiến nhiều nhất vào công việc chung của tô chức, tạo ra những giá tri về vật chất và tinh than cao nhất.