CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ VIỆC LÀM VÀ TẠO VIỆC LÀM CHO NGƯỜI LAO ĐỘNG 1.1 Những khái niệm cơ bản 1.1 Nguồn nhân lực và nguồn lao động Theo Kinh tế phát triển thì Nguồn nhân lực là một bộ phận của dân số trong độ tuổi nhất định theo quy định của pháp luật có khả năng tham gia lao động. Nguồn nhân lực được biểu hiện trên hai mặt số lượng và chất lượng. + Về số lượng: là tổng số người trong độ tuổi lao động và thời gian làm việc có thể huy động được từ họ (Từ đủ 15 – 55 tuổi đối với nữ và từ đủ 15 – 60 tuổi đối với nam). Việc quy định cụ thể độ tuổi lao động của mỗi nước là khác nhau tùy thuộc vào điều kiện và trình độ phát triển của nền kinh tế xã hội trong từng giai đoạn.
Ở Việt Nam, theo quy định của Bộ luật Lao động, dân số trong độ tuổi lao động là những người đủ từ 15 đến 60 tuổi đối với nam và từ đủ 15 đến 55 tuổi đối với nữ. + Về chất lượng: Là trình độ học vấn, trình độ chuyên môn kỹ thuật, sức khỏe và phẩm chất của NLĐ.2 Việc làm - Khái niệm về công tác tạo việc làm: – Tổ chức lao động quốc tế (ILO) đưa ra khái niệm việc làm: Việc làm là những hoạt động lao động được trả công bằng tiền hoặc hiện vật. – Theo điều 33 của Bộ luật lao động Việt Nam: Khái niệm việc làm là những hoạt động có ích không bị pháp luật ngăn cấm và đem lại thu nhập cho người lao động. Việc làm là nhu cầu, quyền lợi nhưng đồng thời cũng là nghĩa vụ và trách nhiệm đối với mọi người.
Theo đại hội Đảng lần thứ VII: “Mọi việc mang lại thu nhập cho người lao động có ích cho xã hội đều được tôn trọng”. – Theo khái niệm này việc làm được thể hiện dưới các dạng sau: + Làm những công việc mà người lao động khi thực hiện nhận được tiền lương, tiền công bằng tiền mặt hoặc bằng hiện vật cho công việc đó. 4 + Làm những công việc khi người lao động thực hiện thu lợi nhuận cho bản thân ( người lao động có quyền sử dụng quản lý hoặc sở hữu tư liệu sản xuất và sức lao động cho bản thân để sản xuất sản phẩm). + Làm những công việc cho hộ gia đình nhưng không được trả thù lao dưới hình thức tiền công, tiền lương cho công việc đó ( do chủ gia đình làm chủ sản xuất).
– Theo quan niệm của thế giới về việc làm thì: người có việc làm là những người làm một việc gì đó được trả tiền công, lợi nhuận hoặc được thanh toán bằng hiện vật hoặc những người tham gia vào các hoạt động mang tính chất tự tạo việc làm vì lợi ích hay vì thu nhập gia đình không được nhận tiền công hoặc hiện vật. Khi vận dụng vào điều kiện và hoàn cảnh của nước ta thì khái niệm về việc làm có sự thay đổi và được nhiều người đồng tình đó là: Người có việc làm là người làm việc trong những lĩnh vực, ngành nghề, dạng hoạt động có ích, không bị pháp luật ngăn cấm, đem lại thu nhập để nuôi sống bản thân và gia đình đồng thời góp một phần cho xã hội( theo giáo trình: Về chính sách giải quyết việc làm ở Việt Nam của PTS. Nguyễn Hữu Dũng- Trần Hữu Trung) Với các khái niệm việc làm trên thì nội dung của việc làm đã được mở rộng và tạo ra khả năng to lớn giải phóng tiềm năng lao động, giải quyết việc làm cho nhiều người cụ thể. + Thị trường việc làm đã được mở rộng rất lớn gồm tất cả các thành phần kinh tế( quốc doanh, tập thể, tư nhân, hợp tác xã…), mọi hình thức và cấp độ sản xuất kinh doanh( kinh tế hộ gia đình, doanh nghiệp, tổ hợp…) và sự đan xen giữa chúng.
Nó không bị hạn chế về mặt không gian. + Người lao động được tự do hành nghề, tự do liên doanh liên kết, tự do thuê mướn lao động theo luật pháp và sự hướng dẫn của nhà nước để tạo việc làm cho mình và thu hút thêm lao động xã hội theo quan hệ cung cầu về lao động trên thị trường lao động. 5 - Theo Bộ luật lao động Việt Nam năm 2012: “ Việc làm là hoạt động lao động tạo ra thu nhập mà không bị pháp luật cấm”. Như vậy việc làm là: + Làm các công việc được trả công dưới dạng bằng tiền hoặc hiện vật.
+ Những công việc tự làm để thu lợi cho bản thân hoặc thu nhập cho gia đình mình nhưng không được trả công bằng tiền hoặc hiện vật cho công việc đó. Theo quan niệm này thì không chỉ những người đang làm việc trong các ngành của nền kinh tế quốc dân, mà nhiều người khác cũng được coi là có việc làm nếu họ gián tiếp tạo ra thu nhập miễn không bị pháp luật ngăn cấm. - Các hình thức việc làm: + Hiện nay tồn tại nhiều hình thức việc làm như: Việc làm nhận được tiền công, tiền lương, tự tạo việc làm….3 Tình trạng việc làm Việc làm đầy đủ. Việc làm đầy đủ là việc làm cho phép người lao động có điều kiện sử dụng hết thời gian lao động theo quy định.
Theo bộ luật Lao động Việt Nam thì người đủ việc làm là những người có số giờ làm việc trong tuần lễ tính đến thời điểm điều tra lớn hơn hoặc bằng 40 giời hoặc những người có số giờ làm việc nhỏ hơn 40 giờ nhưng không có nhu cầu làm thêm hoặc những người có số giờ làm việc nhỏ hơn 40 giờ nhưng lớn hơn hoặc bằng giờ quy định đối với những người làm công việc nặng nhọc, độc hại theo quy định hiện hành. Số giờ làm việc có thể thay đổi theo từng năm hoặc từng thời kỳ. Việc làm hợp lý và việc làm hiệu quả. Việc làm hợp lý là việc làm phù hợp với số lượng và chất lượng của các yếu tố con người và vật chất của sản xuất, là bước phát triển cao hơn của việc almf đầy đủ.
Việc làm hợp lý còn là việc làm phù hợp với khả năng và nguyện vọng của người lao động. Việc làm hiệu quả là việc làm đem lại mức thu nhập cao cho người lao động. 6 Thiếu việc làm. - Thiếu việc làm là tình trạng người lao động không sử dụng hết thời gian quy định và nhận được thu nhập thấp từ công việc khiến họ có nhu cầu làm thêm.
- Tình trạng thiếu việc làm còn được gọi là bán thất nghiệp. Người lao động ở trong tình trạng này thường là lao động nông thôn, theo mùa vụ, lao động ở khu vực sản xuất, kinh doanh đang gặp khó khan, lao động ở khu vực nàh nược dôi dư.4 Thất nghiệp Theo tổ chức lao động quốc tế (ILO): “ Thất nghiệp là tình trạng tồn tạ khi một số người trong lực lượng lao động muốn làm việc nhưng không thể tìm được việc làm ở mức tiền lương đang thịnh hành”. Ở Việt Nam, người thất nghiệp là người đủ 15 tuổi trở lên có nhu cấu làm việc nhưng không có việc làm trong tuần lễ điều tra hoặc tính đến thời điểm điều tra có đi tìm việc làm trong 4 tuần lễ vừa qua hoặc không đi tìm việc làm trong 4 tuần lễ với lý do chờ việc, nghỉ thời vụ, không biết tìm việc ở đâu hoặc trong tuần lễ điều tra có tổng số giờ làm việc dưới 8h/ ngày, muốn làm thêm nhưng không có việc. Phân loại thất nghiệp: Thất nghiệp có thể được chia thành các loại sau: Theo lý do thất nghiệp.
Thất nghiệp tự nguyện. Thất nghiệp không tự nguyện. Thất nghiệp trá hình. Thất nghiệp theo nguồn gốc.
Thất nghiệp tạm thời. Thất nghiệp có tính cơ cấu. 7 Thất nghiệp do thiếu cầu. Thất nghiệp do yếu tố ngoài thị trường.5 Tạo việc làm - Tạo việc làm là quá trình tạo ra số lượng, chất lượng tư liệu sản xuất, số lượng và chất lượng sức lao động và các điều kiện kinh tế xã hội để kết hợp sức lao động và tư liệu sản xuất.
- Vấn đề tạo việc làm luôn được các nước quan tâm, đặc biệt đối với Việt Nam là nước có tốc độ gia tăng dân số, nguồn lao động khá cao trong khi tốc độ phát triển kinh tế còn chưa cao do hạn chế về vốn, tư liệu sản xuất còn dưới mức của nhu cầu kết hợp với sức lao động.2 Vai trò, ý nghĩa của công tác tạo việc làm đối với tăng trưởng và phát triển kinh tế - xã hội 1.1 Về mặt kinh tế - Giải quyết việc làm là vấn đề được đặt ra ở nhiều quốc gia , kể cả các nước phát triển và đang phát triển. Điều này không chỉ có ý nghĩa đối với một bộ phận dân cư, những người thiếu việc làm và thất nghiệp mà quan trọng hơn, nó tác động đến sự tăng trưởng và phát triển kinh tế. Ở Việt Nam hiện nay, giải quyết việc làm cho người lao động trước hết sẽ tạo điều kiện để khai thác được tối đa những nguồn lực quan trọng đang còn tiềm ẩn nhưu tài nguyên vốn, ngành nghề… thông qua lao động của con người. Khi người lao động có việc làm sẽ mang lại thu nhập cho bản thân họ và từ đó tạo ra tích lũy.
Nhà nước không những không phải chi trợ cấp cho những người nghèo không có việc làm mà khi giải quyết việc làm cho họ, họ có thể mang lại tích lũy cho nền kinh tế quốc dân. Tăng tích lũy sẽ giúp cho sản xuất được mở rộng, tức là tác động đến tổng cung, tăng tiêu dung sẽ làm cho tổng cầu của nền kinh tế tăng lên kích thích sự phát triển của sản xuất, từ đó thúc đẩy sự tăng trưởng của nền kinh tế. - Nước ta luôn tồn tại tình trạng thất nghiệp và thiếu việc làm nghiêm trọng, đại bộ phận dân cư có mức sống thấp, nhiều người lao động cần có việc làm hoặc việc làm có hiệu quả hơn. Giải quyết việc làm của Việt Nam trong giai đoạn hiện nay có ý 8 nghĩa to lớn đối với quá trình phát triển kinh tế, góp phần đẩy nhanh tốc độ tăng trưởng và nâng cao thu nhập quốc dân.2 Về mặt xã hội - Giải quyết việc làm là vấn đề mang tính xã hội.
Mối con người khi trưởng thành đều có nhu cầu và mong muốn làm việc, đó là nhu cầu chính đáng và cũng là quyền lợi của người lao động. Chính vì vậy, giải quyết việc làm đầy đủ cho người lao động có ý nghĩa rất lớn đối với mỗi cá nhân và cả xã hội.