Chương 1: Giới thiệu luận văn Thạc sĩ kinh tế. Chương 2: Tổng quan lý thuyết và cơ sở thực nghiệm về khả năng trả nợ TDVM của hộ nghèo vay vốn tại ngân hàng. Chương 3: Thực trạng TDVM của hộ nghèo vay vốn tại Chi nhánh NHCSXH tỉnh Đắk Lắk. Chương 4: Mô hình nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến khả năng trả nợ TDVM của hộ nghèo vay vốn tại Chi nhánh NHCSXH tỉnh Đắk Lắk.
Chương 5: Kết quả nghiên cứu và hàm ý chính sách. 123doc 4 CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN LÝ THUYẾT VÀ CƠ SỞ THỰC NGHIỆM VỀ KHẢ NĂNG TRẢ NỢ TDVM CỦA HỘ NGHÈO VAY VỐN TẠI NGÂN HÀNG 2. Tổng quan lý thuyết về hộ nghèo, tín dụng vi mô và khả năng trả nợ 2. Nghèo, hộ nghèo và đo lường đối tượng nghèo (i) Một số tiếp cận về nghèo và định nghĩa hộ nghèo Theo cẩm nang giới thiệu và phân tích về nghèo (hoặc nghèo đói - poverty) của World Bank Institute (2005), có nhiều tiếp cận khác nhau về khái niệm nghèo như: tiếp cận thông qua sự thiếu thốn về nguồn lực để đáp ứng nhu cầu sống, thông qua thiếu thốn về phúc lợi xã hội hoặc qua khả năng để tham gia phát triển trong xã hội: Nghèo về nguồn lực để đáp ứng nhu cầu sống: tiếp cận này dựa trên nguồn lực của cá nhân hoặc hộ gia đình để đáp ứng các nhu cầu sống cơ bản.
Với cách tiếp cận này, nghèo được đo bằng cách so sánh lợi tức hoặc thu nhập của một cá nhân hoặc gia đình với một ngưỡng nào đó mà dưới ngưỡng đó họ được coi là nghèo. Đây là quan điểm thông dụng nhất khi nghèo được nhìn nhận phần lớn bằng tiền – và cũng là xuất phát điểm cho hầu hết các phân tích về nghèo. Nghèo về phúc lợi xã hội: quan tâm đến việc con người có thể có đủ thức ăn, chỗ ở, chăm sóc sức khoẻ hoặc giáo dục hay không. Theo quan điểm này, để đo lường nghèo, các nhà phân tích cần phải sử dụng cách đo lường khác với đo lường truyền thống thông qua tiền tệ như: nghèo về dinh dưỡng có thể được đo bằng cách kiểm tra xem trẻ em có còi cọc, suy dinh dưỡng hay không; nghèo về giáo dục có thể được đo bằng cách hỏi xem ai không biết chữ hay qua xác định mức giáo dục thức chính thức mà họ nhận được.
Nghèo về khả năng để có thể tham gia phát triển trong xã hội: quan điểm này cho rằng nghèo là khi con người thiếu đi những khả năng cơ bản để có thể tham gia vào quá trình phát triển trong xã hội do có thu nhập hoặc giáo dục không đầy đủ, hoặc 123doc 5 sức khoẻ kém, mất an ninh, hoặc tự tin thấp hoặc cảm giác bất lực, hoặc không có các quyền như tự do ngôn luận. Đây có lẽ chính là cách tiếp cận rộng nhất về nghèo. Như vậy, qua các tiếp cận về nghèo, có thể thấy nghèo là hiện tượng đa chiều (World Bank Institute, 2005). Khái niệm nghèo để chỉ sự thiếu thốn về nguồn lực của cá nhân, gia đình để đáp ứng những nhu cầu sống cơ bản của họ.
Các nhu cầu này có thể là tiền bạc, các phúc lợi xã hội hoặc cơ hội để tham gia phát triển trong xã hội. Với việc hộ gia đình có thể định nghĩa là một hoặc nhiều người cùng chung sống trong một đơn vị nhà ở (Fields và Casper, 2001) thì hộ nghèo có thể được định nghĩa là một hoặc nhiều người cùng chung sống trong một đơn vị nhà ở thiếu thốn nguồn lực để đáp ứng những nhu cầu sống cơ bản. (ii) Các phương pháp đo lường đối tượng nghèo Để đo lường nghèo, cần phải có chuẩn nghèo hay ngưỡng nghèo để phân biệt giữa đối tượng nghèo và không nghèo: - Phương pháp đo lường tuyệt đối: Ngân hàng Thế giới đưa ra đường tham chiếu ngưỡng nghèo (poverty line) để xác định nghèo theo phương pháp đo lường tuyệt đối. Đối tượng được cho là nghèo nếu thu nhập hoặc lợi tức của đối tượng này nằm dưới đường tham chiếu.
Với mục đích để so sánh và tổng hợp trên phạm vi toàn cầu, đường tham chiếu này được tính theo ngang giá sức mua (Gabrisch và Hölscher, 2006). Năm 2008, đường tham chiếu này đặt ở mức 1,25 USD/người/ngày, từ cuối năm 2015 đến nay, đường tham chiếu này được nâng lên mức 1,9 USD/người/ngày. - Phương pháp đo lường tương đối: đối tượng được cho là nghèo khi có thu nhập hay chi tiêu dưới một nửa so với mức trung bình đầu người ở quốc gia họ sống (Gabrisch và Hölscher, 2006). Như vậy, dù với cách đo lường nào, ngưỡng nghèo theo thu nhập hay chi tiêu đều thay đổi theo thời gian và môi trường xã hội.
Rộng hơn, việc đo lường các nguồn lực cần thiết để đáp ứng nhu cầu phúc lợi xã hội hay khả năng tham gia phát triển trong xã hội cũng chịu tác động tương tự. 123doc 6 Do đó, các ngưỡng nghẻo hay chuẩn nghèo sẽ khác nhau về thời gian và khu vực địa lý; mỗi quốc gia sử dụng các đo lường phù hợp với mức độ phát triển, các chuẩn mực và giá trị xã hội của quốc gia đó (Gabrisch và Hölscher, 2006). Ở Việt Nam, theo Quyết định số 9/2011/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ về việc ban hành chuẩn hộ nghèo, hộ cận nghèo áp dụng cho giai đoạn 2011 – 2015, nghèo được xác định theo phương pháp đo lường tuyệt đối dựa trên thu nhập. Theo đó, hộ gia đình được xem là nghèo và định nghĩa là hộ nghèo khi: Hộ có mức thu nhập bình quân từ 400.000 đồng/người/tháng (từ 4.000 đồng/người/năm) trở xuống ở nông thôn.
Hộ có mức thu nhập bình quân từ 500.000 đồng/người/tháng (từ 6.000 đồng/người/năm) trở xuống ở thành thị. Dựa trên số liệu của The Economist (2014) với tỷ giá VND - USD là 21.090, tỷ giá theo ngang giá sức mua là 12.975 thì: - So sánh với đường tham chiếu của Ngân hàng Thế giới năm 2008, tại thời điểm 2014, tiêu chí đo lường ở Việt Nam giai đoạn này thấp hơn khá nhiều: 400.000 đồng/người/tháng so với 1,25 USD/người/ngày - tương đương khoảng 791.000 đồng/người/tháng. - Nếu so sánh ngang giá sức mua dựa trên chỉ số Big Mac, tiêu chí này là 400.000 đồng/người/tháng so với khoảng 487.000 đồng/người/tháng. Đến cuối 2015, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 59/2015/QĐ- TTg quy định chuẩn nghèo dựa trên tiếp cận đa chiều áp dụng cho giai đoạn 2016- 2020, theo đó hộ nghèo là hộ đáp ứng một trong hai tiêu chí sau: Đối với khu vực nông thôn: - Có thu nhập bình quân đầu người/tháng từ đủ 700.000 đồng trở xuống; - Có thu nhập bình quân đầu người/tháng trên 700.000 đồng và thiếu hụt từ 03 chỉ số đo lường mức độ thiếu hụt tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản trở lên.
Đối với khu vực thành thị: - Có thu nhập bình quân đầu người/tháng từ đủ 900.000 đồng trở xuống; 123doc 7 - Có thu nhập bình quân đầu người/tháng trên 900.000 đồng và thiếu hụt từ 03 chỉ số đo lường mức độ thiếu hụt tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản trở lên. Các chỉ số đo lường mức độ thiếu hụt tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản bao gồm: tiếp cận các dịch vụ y tế; bảo hiểm y tế; trình độ giáo dục của người lớn; tình trạng đi học của trẻ em; chất lượng nhà ở; diện tích nhà ở bình quân đầu người; nguồn nước sinh hoạt; hố xí/nhà tiêu hợp vệ sinh; sử dụng dịch vụ viễn thông; tài sản phục vụ tiếp cận thông tin. Tuy nhiên, do thời gian thực hiện nghiên cứu (2015-2017) và đặc điểm bài nghiên cứu, các số liệu thu thập trong bài sẽ là của những đối tượng theo chuẩn nghèo giai đoạn 2011-2015 của Thủ tướng Chính phủ. Khái niệm tín dụng vi mô Sinha và Matin (1998) định nghĩa tín dụng vi mô là những khoản vay nhỏ.
Khi sử dụng định nghĩa này, TDVM rất đa dạng, có thể là các khoản vay tiêu dùng từ thị trường không chính thức, vay từ bạn bè và người thân, hoặc là các khoản vay đặc thù từ các ngân hàng hay các tổ chức tín dụng nông nghiệp, nông thôn, chăn nuôi, tín dụng ô tô, xe máy, tín dụng tiêu dùng chính thức. Khi gắn với người nghèo, tổ chức vận động chính sách Microcredit Summit Campaign (2002) trong báo cáo của mình thì định nghĩa hẹp hơn, cho rằng TDVM là các khoản vay nhỏ được cấp cho người nghèo để họ có thể bắt đầu các công việc nhỏ và phát triển tiết kiệm. Tương tự như vậy, Gutiérrez-Nieto và cộng sự (2007) định nghĩa TDVM là việc là việc cung cấp các khoản vay nhỏ cho những người nghèo để thực hiện các dự án tự làm chủ, tạo ra thu nhập. Qua các định nghĩa, TDVM trong đề tài được hiểu là các khoản vay nhỏ được cung cấp cho người nghèo để thực hiện các công việc tự làm chủ, tạo ra thu nhập và tiết kiệm.
Các khoản vay này thường mang các đặc điểm như nhỏ, dành cho người nghèo, không có tài sản thế chấp và người vay phải tham gia vào các tổ nhóm (Nawai và Shariff, 2010). 123doc 8 TDVM và tài chính vi mô là hai khái niệm có liên quan mật thiết, để tìm hiểu rõ hơn về đặc điểm của TDVM, ta cần tìm hiểu khái niệm TCVM. Ledgerwood (1999) định nghĩa thuật ngữ TCVM để chỉ việc cung cấp các dịch vụ tài chính như tín dụng, tiết kiệm, bảo hiểm và thanh toán cho những khách hàng nghèo hoặc có thu nhập thấp. Ngoài việc là trung gian tài chính, nhiều tổ chức TCVM còn thực hiện các dịch vụ trung gian xã hội như thành lập tổ nhóm, đào tạo kiến thức về tài chính và phát triển năng lực, sự tự tin của các thành viên trong tổ nhóm.
Cũng theo Ledgerwood (1999) thì các hoạt động TCVM thường mang những đặc điểm như: các khoản vay nhỏ; không có tài sản thế chấp, tài sản thế chấp được thay thế bằng sự đảm bảo của tổ nhóm hoặc tiết kiệm bắt buộc. Các tổ chức TCVM có thể là các tổ chức tài chính phi chính phủ, ngân hàng chính phủ, ngân hàng thương mại, các liên hiệp tín dụng, các hiệp hội tiết kiệm và cho vay, các định chế tài chính phi ngân hàng. Từ khái niệm TDVM và TCVM, có thể hiểu TDVM là một phần của TCVM. Mặc dù các thuật ngữ có thể được sử dụng hoán đổi cho nhau, nhưng TCVM đại diện cho cho cả lĩnh vực còn TDVM dùng để chỉ việc cấp tín dụng (Nawai và Shariff, 2010).
Cụ thể: - TDVM là các khoản vay nhỏ, không có tài sản thế chấp được cung cấp cho người nghèo để thực hiện các công việc tự làm chủ, tạo ra thu nhập và tiết kiệm.