Chương 1: Giới thiệu tổng quan nghiên cứu. Trong chương này luận án giới thiệu tổng quan về nghiên cứu bao gồm tính cấp thiết của luận án nghiên cứu, tổng quan nghiên cứu của đề tài, mục tiêu nghiên cứu, đối tượng nghiên cứu, trình bày tổng quan về phương pháp nghiên cứu và nêu điểm mới của nghiên cứu. Chương 2: Tổng quan cơ sở lý thuyết. Chương 2 trình bày tổng quan cơ sở lý thuyết nghiên cứu, bao gồm các luận cứ có liên quan, các lý thuyết nền tảng liên quan đến nội dung nghiên cứu, tổng hợp và khảo lược các nghiên cứu khác ở trong nước cũng như nước ngoài.
Từ đó, luận án xây dựng khung lý thuyết cho nghiên cứu và thiết lập các giả định cho mô hình nghiên cứu đã đề xuất để đạt mục tiêu nghiên cứu đề ra. 11 Chương 3: Phương pháp nghiên cứu. Chương 3 của luận án trình bày chi tiết phương pháp nghiên cứu, cụ thể như trình bày cách thức thu thập dữ liệu và phân tích dữ liệu nghiên cứu, trình bày lập luận cơ sở xây dựng mô hình nghiên cứu, trình bày các khái niệm và đo lường các biến trong mô hình được trình bày chi tiết trong Chương 3 của luận án. Chương 4: Kết quả nghiên cứu.
Chương 4 của luận án trình bày thực trạng địa bàn nghiên cứu, thực trạng hoạt động TDVM ở Việt Nam và trong khu vực, mô tả những kết quả thành tựu đạt được trong công tác giảm nghèo của khu vực, những khó khăn và thách thức cần tiếp tục phát huy và cải thiện. Bên cạnh đó, trong chương 4 trình bày kết quả đã nghiên cứu được qua việc phân tích và kiểm định các giá trị thống kê từ các mô hình nghiên cứu. Các giả thiết đặt ra được phân tích chi tiết tại chương này, đồng thời Chương 4 cũng là chương trả lời các câu hỏi và làm rõ mục tiêu của nghiên cứu. Chương 5: Kết luận và đề xuất các giải pháp có liên quan.
Chương 5 tổng hợp lại các kết quả nghiên cứu được của luận án. Tổng hợp lại các vấn đề và xác định mục tiêu nghiên cứu đã được làm rõ. Từ đó, các giải pháp nghiên cứu được trình bày góp phần nâng cao thu nhập cho hộ nghèo thông qua việc nâng cao tiếp cận TDVM cho hộ nghèo nhằm hướng tới mục tiêu giảm nghèo bền vững trong khu vực và cả quốc gia. 12 TDVM tác động đến thu nhập của các hộ nghèo ở khu vực Đông Nam Bộ MT1: Khẳng định TDVM có tác động đến MT2: Tìm hiểu khả năng tiếp cận TDVM MT3: Đề xuất các giải pháp góp phần thu nhập của các hộ nghèo và mức độ tác của các hộ nghèo.
nâng cao thu nhập thông qua nâng cao tiếp động của TDVM đến thu nhập. cận TDVM cho các hộ nghèo Tổng quan các lý thuyết về tín dụng với thu nhập. Lược khảo các lý thuyết có liên quan về tín dụng với Các lý thuyết về tiếp cận tín dụng thu nhập và lý thuyết tiếp cận tín dụng Khoảng trống trong nghiên cứu Đề xuất mô hình nghiên cứu Thu thập dữ liệu, bổ sung và hoàn chỉnh dữ liệu Phân tích mô hình hồi quy tuyến tính đa biến Phân tích mô hình hồi quy Binary Logistics thông qua hệ thống kiểm định thông qua hệ thống kiểm định Thảo luận kết quả nghiên cứu Khuyến nghị giải pháp Hình 1. Quy trình thực hiện nghiên cứu 13 CHƢƠNG 2: TỔNG QUAN CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ TÍN DỤNG VI MÔ VỚI THU NHẬP CỦA HỘ NGHÈO Chương 2 trình bày tổng quan về sơ sở lý thuyết nghiên cứu như các khái niệm về TDVM, nghèo, thu nhập được trình bày trong phần 2.1 của chương.1 tiếp tục trình bày lý thuyết của luận án với lý thuyết nguồn vốn, lý thuyết thu nhập và lý thuyết hạn chế tiếp cận tín dụng.2 nghiên cứu tiến hành khảo lược các nghiên cứu thực nghiệm có liên quan, đồng thời tại phần 2.3 của chương khoảng trống trong nghiên cứu được xác định và nghiên cứu tiếp tục kế thừa và làm rõ khoảng trống nghiên cứu trong các chương tiếp theo của luận án.
Tín dụng vi mô 2. Khái niệm Hiện nay có rất nhiều quan niệm về TDVM, theo Hội nghị thượng đỉnh toàn cầu về TDVM tại Washington tháng 2 năm 1997 cho rằng TDVM là việc cung cấp các khoản vay có quy mô nhỏ đến đối tượng nghèo với mục đích giúp những người thụ hưởng thực hiện các dự án sản xuất kinh doanh để tạo lợi nhuận từ đó nâng cao chất lượng đời sống cho cả người vay vốn và gia đình của họ (Micro-credit Summit, 1997 ). TDVM được sử dụng để mô tả các khoản vay nhỏ được cấp cho các cá nhân có thu nhập thấp bị loại trừ khỏi hệ thống ngân hàng truyền thống. Nó là một phần của TCVM, cung cấp tín dụng không chỉ có sản phẩm cho vay mà còn tiết kiệm, bảo hiểm và các dịch vụ tài chính cơ bản khác cho người nghèo.
Thuật ngữ 'vi mô' xuất phát từ số tiền cho vay tương đối nhỏ (Microworld, 2018). Đồng thuận quan điểm này, Ledgerwood (1999) và Chowdhury (2000) cho rằng TDVM là các khoản vay nhỏ; Abhijit và ctg (2015) cho hay TDVM là việc cung cấp các khoản vay nhỏ phục 14 vụ cho các mục đích kinh doanh, sản xuất, các hoạt động tạo ra thu nhập và tạo dựng giá trị tài sản. TDVM có nghĩa là khoản vay nhỏ cho những người cần tiền để tự làm chủ các dự án tạo ra thu nhập hoặc cho các nhu cầu gia đình khẩn cấp như vấn đề về sức khỏe và giáo dục. Nó có nghĩa là để giúp cải thiện chất lượng cuộc sống của người dân bằng cách cung cấp cho họ một nhỏ số tiền trong một khoảng thời gian ngắn (Maheswaranathan và Kennedy, 2008).
Qua đây, có thể cho thấy TDVM đã được hầu hết các nhà nghiên cứu đồng thuận rằng TDVM là một dịch vụ của TCVM cung cấp cho những người nghèo và những người không có khả năng tiếp cận nguồn vốn từ các định chế tài chính khác bởi các rào cản về tài sản thế chấp với các khoản vay nhỏ, giúp họ tự tạo việc làm và tạo ra thu nhập (Mohanan, 2005). Như vậy, thuật ngữ TDVM có thể tạm định nghĩa rằng ―TDVM là việc cung cấp các khoản cho vay nhỏ đến các đối tượng khách hàng là người nghèo, người có thu nhập thấp giúp họ tạo lập trong kinh doanh, tạo dựng tài sản và gia tăng thu nhập‖. Vai trò của tín dụng vi mô đối với giảm nghèo Công tác xóa đói giảm nghèo là một trong những chiến lược cấp bách mà toàn xã hội quan tâm. Vì lẽ đó trong năm 2015, chính phủ đã thành lập Ban Đề án TCVM nhằm tăng cường hơn nữa công tác hỗ trợ người lao động nghèo, các hộ nghèo có thể cải thiện cuộc sống, kích thích hộ nghèo gia tăng năng suất lao động, bảo đảm ổn định kinh tế gia đình và gia tăng quyền cho người phụ nữ (Quyết định số 20/2017/QĐ-TTg).
Đầu tiên, bắt đầu từ sự khởi xướng bởi giáo sư Yunus từ những khoản vay rất nhỏ nhưng đã giúp cho hàng ngàn người lao động nghèo có cơ hội mở ra cánh cửa mưu sinh. Là các khoản tiền tuy nhỏ nhưng đến với họ lúc đang cần nhất, như một 15 ―phao cứu sinh‖ giúp họ vượt qua khó khăn, trắc trở. Ở một số nước trên thế giới như Ấn Độ, Thái Lan, Indonesia, Philippines, Bangladesh,…TDVM đã mang đến cho hàng ngàn phụ nữ quyền để khẳng định vị thế của mình trong các hộ gia đình. Xuất phát từ các phong tục cổ hủ mà phụ nữ thường làm các công việc nội trợ và phụ thuộc chủ yếu vào nam giới trong gia đình thì TDVM đã tạo dựng cho họ có cơ hội tạo ra nguồn thu nhập góp phần giải quyết khó khăn trong cuộc sống.
Hoạt động TDVM đã phát triển rộng khắp các quốc gia, số lượng khách hàng đã gia tăng đáng kể tại các nước Argetina, Colombia, Mexico và các nước Châu Mỹ La tinh (Franco, 2011). Tại Việt Nam, hoạt động cho vay nhỏ được thực hiện bởi các tổ chức TCVM (MFIs), các tổ chức hoạt động tài chính, các tổ chức phi chính phủ (NGOs) hoặc các tổ chức xã hội tại các địa phương thuộc khu vực chính thức, bán chính thức và phi chính thức (Nguyễn Kim Anh và ctg, 2011). TDVM là chương trình đã được sử dụng ở các nước đang phát triển và có hiệu quả cao trong xóa đói giảm nghèo, đặc biệt khu vực Châu Á Thái Bình Dương là nơi có nhiều tổ chức TCVM phát triển và phần lớn tập trung hướng vào phụ nữ ở khu vực nông thôn (Krog, 2000). Hoạt động TDVM góp phần làm tăng thu nhập, làm tăng lợi ích chung của gia đình nhất là trẻ em trong các gia đình nghèo điều đó đã làm cho phúc lợi của toàn xã hội cũng được tăng lên.
Thế nhưng, vẫn còn tồn tại một số tranh luận chưa đồng thuận về tính hiệu quả của TDVM đối với giảm nghèo. Bateman (2010a) nêu luận điểm sự ―ảo tưởng về xóa đói giảm nghèo‖ của TDVM. Ông lập luận rằng đây giống như một trò xổ số và có sự may rủi, những trường hợp vươn lên và thoát được đói nghèo do họ đã và đang làm chủ các doanh nghiệp vi mô và cuộc sống của họ có phần khấm khá hơn. Đối với những người nghèo cùng cực xa vắng các tổ chức tín dụng, xa vắng các khu đô thị thì việc tiếp cận được với tín dụng thật khó khăn, nhất là những người nghèo cùng cực thì việc tiếp cận được với các khoản vay vi mô thật không dễ dàng (Tazul, 2007).
16 Dẫu vậy, đến nay vẫn không thể phủ nhận sự thiếu vắng vai trò của TDVM đối với chiến dịch chống lại đói nghèo, nhất là ở các quốc gia đang phát triể n. TDVM được xem là phương cách hiệu quả và đáng tin cậy để cung cấp ngày càng nhiều hơn các sản phẩm đến khách hàng là người nghèo, người có thu nhập thấp hoặc các doanh nghiệp siêu nhỏ. Sản phẩm của TDVM phân biệt với các sản phẩm tín dụng khác như các khoản vay nhỏ, không cần tài sản bảo đảm và thường linh hoạt, dễ dàng tiếp cận với các đối tượng là người nghèo. Khái quát hoạt động tín dụng vi mô ở các nƣớc trên thế giới - Hoạt động của mô hình ngân hàng Grameen ở Bangladesh (GB) Các dịch vụ TCVM được Raiffeisen nghĩ ra và áp dụng đầu tiên vào năm 1860 ở Đức với phương thức cho vay nhỏ dựa trên nguyên tắc giúp đỡ lẫn nhau, tự giám sát và chịu trách nhiệm trong nhóm vay về các khoản vay của mình và hoạt động chủ yếu trong lĩnh vực nông nghiệp.