ĐẶT VẤN ĐỀ 1. Tính cấp thiết của đề tài Nghèo là một trong những vấn đề xã hội gay gắt và mang tính toàn cầu, còn trầm trọng hơn khi nó vẫn còn tồn tại trên phạm vi vô cùng rộng lớn. Nghèo là nỗi bất hạnh của nhiều người, là nghịch lý trên con đường phát triển chung của xã hội. Trong thời gian qua, ở nước ta việc đánh giá nghèo đói hoàn toàn dựa vào các tiêu chí thu nhập, trong đó chuẩn nghèo được xác định theo phương pháp “chi phí cho các nhu cầu cơ bản”.
Các nhu cầu cơ bản bao gồm chi cho nhu cầu tối thiểu về lương thực/thực phẩm và chi cho những nhu cầu phi lương thực/thực phẩm thiết yếu (giáo dục, y tế, nhà ở. Cách tiếp cận theo thu nhập/ chi tiêu kéo dài trong 1 thời gian (từ năm 1993 đến nay) không còn phù hợp, bộc lộ nhiều hạn chế như bỏ sót đối tượng, độ bao phủ chưa cao, thiếu công bằng trong việc thực hiện chính sách giảm nghèo, chưa đánh giá, đo lường mức độ chuyển biến về tiếp cận các nhu cầu xã hội cơ bản của người dân. Cách tiếp cận nghèo đa chiều nhằm mục đích đánh giá 1 cách toàn diện hơn kết quả giảm nghèo của cả nước cũng như từng địa phương, làm cơ sở để ban hành các chính sách giảm nghèo phù hợp cho từng đối tượng. Bởi vì, trong đánh giá một số chỉ tiêu về nhu cầu cơ bản của con người không thể lượng hóa được bằng tiền như (như tham gia xã hội, an ninh, vị thế xã hội, v.) hoặc không thể mua được bằng tiền (tiếp cận giao thông, thị trường, đường xá và các loại cơ sở hạ tầng khác, an ninh, môi trường, một số dịch vụ y tế/giáo dục công v.), mặt khác với các hộ có có thu nhập trên chuẩn nghèo thì trong một số trường hợp thu nhập đó sẽ không được chi tiêu cho những nhu cầu tối thiểu; vì những lý do như không tiếp cận được dịch vụ tại nơi sinh sống, hoặc thay vì chi tiêu cho giáo dục hoặc y tế, thu nhập có thể bị chi cho thuốc lá, bia rượu và các mục đích khác.
Do đó, việc áp dụng 2 phương pháp đo lường nghèo đa chiều sẽ khắc phục được những nhược điểm trong phương pháp tiếp cận cũ, đồng thời giải quyết nhu cầu thực tế mà người nghèo, cận nghèo cần trợ giúp thực sự. Ở nước ta, cách tiếp cận nghèo đa chiều cũng dựa trên cách tiếp cận của thế giới nhưng có những điểm cần lưu ý trong quá trình vận dụng để đánh giá, đo lường nghèo đa chiều. Thời gian qua, chuẩn nghèo, tỷ lệ nghèo và xác định đối tượng nghèo ở Việt Nam hoàn toàn dựa vào các tiêu chí thu nhập, trong đó chuẩn nghèo được xác định theo phương pháp “chi phí cho các nhu cầu cơ bản”. Các nhu cầu cơ bản bao gồm chi cho nhu cầu tối thiểu về lương thực/thực phẩm và chi cho những nhu cầu phi lương thực/thực phẩm thiết yếu (giáo dục, y tế, nhà ở.
Cách tiếp cận theo thu nhập này không phù hợp với tính đa chiều của nghèo đói, bởi vì: Thứ nhất, một số nhu cầu cơ bản của con người không thể quy ra tiền (như tham gia xã hội, an ninh, vị thế xã hội, v.) hoặc không thể mua được bằng tiền (tiếp cận giao thông, thị trường, đường xá và các loại cơ sở hạ tầng khác, an ninh, môi trường, một số dịch vụ y tế/giáo dục công v. Thứ hai, với các hộ có có thu nhập trên chuẩn nghèo thì trong một số trường hợp thu nhập đó sẽ không được chi tiêu cho những nhu cầu tối thiểu; vì những lý do như không tiếp cận được dịch vụ tại nơi sinh sống, hoặc thay vì chi tiêu cho giáo dục hoặc y tế, thu nhập có thể bị chi cho thuốc lá, bia rượu và các mục đích khác. Đặc biệt, khi Việt Nam đã trở thành nước có thu nhập trung bình thấp vào năm 2010 với tốc độ đô thị hóa, công nghiệp hóa và di cư rất nhanh, phương pháp này càng bộc lộ nhiều hạn chế. Dựa trên quan điể m này , khái niệm “nghèo đa chiều” đã ra đời trong đó xác định rõ nghèo không hẳn chỉ là đói ăn , thiế u uố ng hoă ̣c thiế u các điề u kiê ̣n số ng, sinh hoa ̣t khác mà nghèo đói còn đươ ̣c gây ra bởi các rào cản về xã hô ̣i và các tác nhân khác ng ăn chă ̣n những cá nhân hoă ̣c cô ̣ng đồ ng tiế p câ ̣n đến sức khỏe, giáo dục và mức sống.
3 Trong những năm gần đây xã Kim Phượng, huyện Định Hóa, tỉnh Thái Nguyên đã áp dụng nhiều các giải pháp giảm nghèo nhằm phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội và đạt được những thành tựu nhất định. Tỷ lệ người dân được tiếp cận với các dịch vụ xã hội cơ bản, cơ sở hạ tầng được cải thiện rõ rệt, đời sống người nghèo được nâng cao, tỷ lệ hộ nghèo giảm đáng kể. Kết quả giảm nghèo tuy đạt được những mục tiêu đề ra nhưng chưa thực sự bền vững. Tỷ lệ hộ cận nghèo, hộ phát sinh còn lớn, tư tưởng trông chờ, ỷ lại không muốn thoát nghèo còn diễn ra phổ biến ở một bộ phận người dân, chênh lệch người nghèo giữa các vùng và giữa các đối tượng còn lớn, số hộ đã thoát nghèo nhưng mức thu nhập nằm sát với mức chuẩn nghèo, nguy cơ tái nghèo cao.
Do vậy, cần có một chương trình thoát nghèo một cách nghiêm túc và khoa học. Chúng ta không nên nhìn nghèo chỉ với một khía cạnh đó là theo thu nhập, không xem nghèo là một hiện tượng đơn lẻ mà là hiện tượng đa khía cạnh, phức tạp, chồng chéo bao gồm nhiều yếu tố khác nhau. Phương pháp đo lường nghèo đổi từ đơn chiều (theo thu nhập) sang đa chiều để tăng độ bao phủ chính sách tới các đối tượng. Trong thời kì đổi mới, hội nhập kinh tế thế giới, nền kinh tế Thái Nguyên, nền kinh tế huyện Định Hóa, cũng như nền kinh tế xã Kim Phượng có những chuyển đổi rất mạnh theo hướng CNH - HĐH.
Vấn đề cấp thiết cần được đề ra là nghiên cứu, phân tích, đánh giá nghèo một cách đúng đắn, từ đó đưa ra các phương pháp để phát huy các thế mạnh và hạn chế các thế yếu, nhằm đưa xã Kim Phượng thoát nghèo bền vững có hiệu quả. Hiện nay, các nghiên cứu về nghèo đa chiều hầu như chưa có. Vì vậy, để hệ thống hóa cũng như đánh giá được thực trạng nghèo theo hướng đa chiều là rất cần thiết. Xuất phát từ thực tiễn đó, tôi thực hiện đề tài: “Đánh giá thực trạng nghèo thông qua phương pháp tiếp cận đa chiều và giải pháp giảm nghèo bền vững tại xã Kim Phượng, huyện Định Hóa, tỉnh Thái Nguyên”.
Mục tiêu của đề tài nghiên cứu * Mục tiêu chung: Trên cơ sở đánh giá thực trạng nghèo tại địa bàn xã Kim Phượng, thông qua tiếp cận nghèo đa chiều đưa ra phân tích, đánh giá nghèo một cách chính xác. Từ đó rút ra các giải pháp cụ thể nhằm giảm nghèo bền vững tại xã Kim Phượng. Góp phần cho việc giảm nghèo, thoát nghèo và tránh tái nghèo. * Mục tiêu cụ thể: - Xác định được thực trạng nghèo theo hướng tiếp cận nghèo đa chiều của xã Kim Phượng - Đánh giá thực trạng nghèo đa chiều theo phương án 1 và phương án 2 được nêu trong đề án giảm nghèo đa chiều của Bộ LĐTB & XH.
- Xác định được thuận lợi, khó khăn, nguyên nhân trong đánh giá nghèo đa chiều tại xã Kim Phượng - Đề xuất được các giải pháp giảm nghèo bền vững theo nhóm hộ nghèo và cận nghèo( nhóm hộ thụ hưởng chính sách) 1. Ý nghĩa của đề tài * Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu khoa học - Nghiên cứu đề tài là cơ sở cho sinh viên vận dụng sáng tạo những kiến thức đã học vào thực tiễn và là tiền đề quan trọng để sinh viên thấy được những kiến thức cơ bản cần bổ sung để phù hợp với thực tế công việc sau này. - Nghiên cứu đề tài nhằm phát huy cao tính tự giác, chủ động học tập, nghiên cứu của sinh viên. Nâng cao tinh thần tìm tòi, học hỏi, sáng tạo và khả năng vận dụng kiến thức vào tổng hợp, phân tích, đánh giá tình hình và định hướng những ý tưởng trong điều kiện thực tế.
- Đây là khoảng thời gian để mỗi sinh viên có cơ hội được thực tế vận dụng kiến thức đã học vào lĩnh vực nghiên cứu khoa học và là bàn đạp cho việc xuất phát những ý tưởng nghiên cứu khoa học sau này. 5 * Ý nghĩa trong thực tiễn. - Từ kết quả nghiên cứu đề tài sẽ góp một phần vào bản báo cáo đánh giá thực trạng nghèo của địa phương thông qua phương pháp tiếp cận nghèo đa chiều và giải pháp giảm nghèo bền vững của xã Kim Phượng. Ngoài ra, từ những phát hiện trong quá trình nghiên cứu có thể cho địa phương có một cái nhìn tổng thể cũng như chi tiết hơn về thực trạng nghèo của xã.
Qua đó, phần nào giúp định hướng những kiến nghị lên cơ quan quản lý cấp trên kịp thời đưa ra những giải pháp nhằm giúp địa phương giảm nghèo bền vững. - Xác định được các nguyên nhân dẫn đến nghèo của các hộ trong xã. Từ đó, nắm bắt được nhu cầu, mong muốn của các hộ và đề ra các giải pháp giải quyết các nhu cầu trước mắt của người dân. Góp phần thúc đẩy kinh tế, văn hóa, giáo dục của địa phương, góp phần tăng thu nhập và cải thiện đời sống người dân trên địa bàn xã.
6 PHẦN 2 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 2. Khái niệm nghèo, đói Nghèo đói được đặt ra là một trong năm vấn đề lớn mang tính chất toàn cầu: Khủng hoảng sinh thái, ô nhiễm môi trường, khủng hoảng năng lượng, bệnh tật, thất nghiệp và nghèo đói (Trung tâm thông tin và Phát triển Việt Nam, 2007)[10]. Có nhiều quan niệm nghèo đói của các tổ chức và các quốc gia trên thế giới cũng như Việt Nam trên nhiều phương diện và tiêu thức khác nhau như thời gian, không gian, thế giới, môi trường, theo thu nhập, theo mức tiêu dùng và theo những đặc trưng khác của nghèo đói. Song quan niệm thống nhất cho rằng: “Nghèo đói là tình trạng một bộ phận dân cư có mức thu nhập thấp với điều kiện ăn, mặc, ở và nhu cầu cần thiết khác bằng hoặc thấp hơn mức tối thiểu để duy trì cuộc sống ở một khu vực tại một thời điểm nhất định” (Nguyễn Hữu Hồng, 2008)[3].