Chương 1: Những vấn đề lý luận về vai trò của nhân viên công tác xã hội trong giảm nghèo bền vững. Chương 2: Thực trạng vai trò của nhân viên công tác xã hội trong giảm nghèo bền vững tại thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình. Chương 3: Đề xuất một số giải pháp nâng cao vai trò của nhân viên công tác xã hội trong việc thực hiện công tác giảm nghèo bền vững tại thành phố Thái Bình, 10 Chƣơng 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ VAI TRÕ CỦA NHÂN VIÊN CTXH TRONG GIẢM NGHÈO BỀN VỮNG 1. Một số khái niệm có liên quan và các tiêu chí tiếp cận đo lƣờng nghèo đa chiều 1.
Cho đến nay, khái niệm về nghèo đói chưa hề có sự thay đổi, mặc dù chưa có định nghĩa chính thức, tuy nhiên nhiều quan niệm về nghèo đói hiện đang được các quốc gia thừa nhận. Theo Liên hợp quốc (UN): “Nghèo là thiếu năng lực tối thiểu để tham gia hiệu quả vào các hoạt động xã hội. Nghèo có nghĩa là không có đủ ăn, đủ mặc, không được đi học, không được đi khám, không có đất đai để trồng trọt hoặc không có nghề nghiệp để nuôi sống bản thân, không được tiếp cận tín dụng. Nghèo cũng có nghĩa là không an toàn, không có quyền, và bị loại trừ của các cá nhân, hộ gia đình và cộng đồng.
Nghèo có nghĩa là dễ bị bạo hành, phải sống ngoài lề xã hội hoặc trong các điều kiện rủi ro, không được tiếp cận nước sạch và công trình vệ sinh an toàn” [13]. Ngân hàng Thế giới đề cập đến nghèo ở khía cạnh rộng hơn không chỉ là thiếu thốn điều kiện về vật chất mà còn là những vấn đề khác như giáo dục, sức khỏe hay khả năng dễ bị tổn thương. Theo tổ chức này “Nghèo là khái niệm vượt khỏi phạm vi túng thiếu về vật chất; nghèo không chỉ gồm các chỉ số dựa trên thu nhập mà còn gồm các vấn đề liên quan đến năng lực như dinh dưỡng, sức khỏe, giáo dục, khả năng dễ bị tổn thương, không có quyền phát ngôn và không có quyền lực” [9]. Tại hội nghị về chống nghèo đói do Uỷ ban kinh tế xã hội khu vực Châu Á - Thái Bình Dương (ESCAP) tổ chức tại Thái Lan năm 1993, các quốc gia trong khu vực đã thống nhất rằng: “Nghèo đói là tình trạng một bộ phận dân cư không có khả năng thoả mãn những nhu cầu cơ bản của con người mà những nhu cầu ấy phụ 11 thuộc vào trình độ phát triển kinh tế - xã hội, phong tục tập quán của từng vùng và những phong tục ấy được xã hội thừa nhận”.
Các khái niệm trên cho thấy sự thống nhất của các quốc gia và các học giả về quan niệm: nghèo là một hiện tượng đa chiều, tình trạng nghèo cần được nhìn nhận là sự thiếu hụt/không được thỏa mãn các nhu cầu cơ bản của con người. Ở Việt Nam cũng có nhiều quan niệm khác nhau về nghèo đói nhưng tác giả lựa chọn quan niệm do Bộ LĐ-TBXH đưa ra, theo đó: nghèo đói là tình trạng của một bộ phận dân cư chỉ có khả năng thoả mãn một phần các nhu cầu cơ bản của con người và có mức sống ngang bằng hoặc dưới mức sống tối thiểu của cộng đồng xét trên mọi phương diện. Nghèo được chia thành các mức khác nhau: Nghèo tuyệt đối, nghèo tương đối, nghèo đa chiều. - Nghèo tuyệt đối: Là tình trạng một bộ phận dân cư thuộc diện nghèo không có khả năng thỏa mãn nhu cầu tối thiểu của cuộc sống: ăn, mặc, ở, đi lại… - Nghèo tương đối: Là tình trạng một bộ phận dân cư thuộc diện nghèo có mức sống dưới mức sống trung bình của cộng dồng và địa phương đang xét.
- Nghèo đa chiều: Có thể được hiểu là tình trạng con người không được đáp ứng một hoặc một số nhu cầu cơ bản trong cuộc sống. Giảm nghèo bền vững. Giai đoạn 2015-2020, phương pháp đo lường nghèo đói đang đổi từ đơn chiều sang đa chiều để tăng độ bao phủ chính sách tới các đối tượng. Cách tiếp cận đa chiều mới này giúp xóa bỏ các rào cản, hạn chế của các chính sách giảm nghèo hiện tại, khuyến khích người nghèo bày tỏ tiếng nói, tăng tính tự chủ tự vươn lên.
Theo Bộ LĐ-TBXH, “Giảm nghèo bền vững là một trọng tâm của Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 2011 - 2020 nhằm cải thiện và từng bước nâng cao điều kiện sống của người nghèo, trước hết là ở khu vực miền núi, vùng đồng bào dân tộc thiểu số; tạo sự chuyển biến mạnh mẽ, toàn diện ở các vùng nghèo; thu hẹp khoảng cách chênh lệch giữa thành thị và nông thôn, giữa các vùng, các dân tộc và các nhóm dân cư. 12 Như vậy, giảm nghèo bền vững có thể hiểu là tổng thể các hoạt động trực tiếp hoặc gián tiếp của nhà nước, của cộng đồng nhằm thực hiện mục đích hỗ trợ những điều kiện cơ bản (ăn, ở, đi lại, học hành…) để người nghèo có thể tồn tại và phát triển dần đạt đến mức trung bình như các thành viên khác trong cộng đồng. Ở góc độ khác, giảm nghèo bền vững là chuyển từ tình trạng có ít điều kiện lựa chọn sang tình trạng có nhiều điều kiện lựa chọn hơn để cải thiện đời sống mọi mặt của mỗi người. Chất lượng giảm nghèo là khái niệm để chỉ thực chất của kết quả giảm nghèo, mà vấn đề cần đạt được là đời sống người nghèo được nâng lên sau khi có tác động hỗ trợ, khoảng cách thu nhập với các nhóm dân cư khác được rút ngắn, khi gặp rủi ro hay bất trắc sẽ không bị rơi lại vào tình trạng nghèo đói, hay nói cách khác, chất lượng giảm nghèo suy cho cùng là phản ảnh tính bền vững của quá trình giảm nghèo [20].
Nhìn chung, để giảm nghèo bền vững, các nhà nghiên cứu cũng như các chuyên gia đều cho rằng, cần hỗ trợ phát triển cơ sở hạ tầng, hỗ trợ nghề cũng như các điều kiện tiếp cận cơ hội phát triển kinh tế dựa vào cộng đồng để người nghèo có thể tự vươn lên thoát nghèo bằng chính khả năng của họ, dựa trên những điều kiện kinh tế - xã hội sẵn có. * Các chỉ tiêu đánh giá mức độ bền vững trong giảm nghèo: Để đánh giá mức độ bền vững trong giảm nghèo, không thể chỉ đánh giá dựa trên số lượng người nghèo, hộ nghèo, xã nghèo, huyện nghèo giảm xuống mà phải căn cứ trên nhiều tiêu chí khác nhau như: - Thu nhập thực tế của người nghèo, hộ nghèo được cải thiện, vượt qua được chuẩn nghèo, hạn chế tối đa tình trạng tái nghèo về thu nhập nếu gặp rủi ro hoặc sự thay đổi của chuẩn nghèo. - Được tạo cơ hội và có khả năng tiếp cận đầy đủ với các nguồn lực sản xuất được xã hội tạo ra, các dịch vụ hỗ trợ người nghèo và được quyền tham gia và có tiếng nói của mình đối với các hoạt động lập kế hoạch phát triển kinh tế, giảm nghèo cho bản thân và địa phương. - Được trang bị một số điều kiện "tối thiểu" để có khả năng tránh được tình trạng tái nghèo khi gặp phải những rủi ro khách quan như thiên tai, lũ lụt, dịch 13 bệnh… hoặc sự thay đổi của chuẩn nghèo.
- Được đảm bảo tiếp cận bình đẳng về giáo dục dạy nghề và chăm sóc sức khoẻ để về lâu dài, người nghèo, người mới thoát nghèo và con em họ có được kiến thức, kinh nghiệm làm ăn, tay nghề nhằm tạo ra thu nhập ổn định trong cuộc sống. Căn cứ, so sánh với những chỉ tiêu này có thể thấy được hiệu quả của công tác giảm nghèo và kết quả giảm nghèo bền vững ở mức độ nào, trên cơ sở đó có những biện pháp để tăng tính bền vững của giảm nghèo. Các tiêu chí tiếp cận đo lường nghèo đa chiều. Trên cơ sở phát triển kinh tế- xã hội của đất nước ở từng thời kỳ, việc xác định chuẩn nghèo luôn có sự thay đổi phù hợp với từng giai đoạn và tình hình thực tế.
Giai đoạn 2016 - 2020, theo Quyết định số 59/2015/QĐ-TTg ngày 19/11/2015 của Thủ tướng Chính phủ về việc ban hành chuẩn nghèo tiếp cận đa chiều áp dụng cho giai đoạn 2016 – 2020, tiêu chí xác định chuẩn nghèo như sau: Hộ nghèo khu vực nông thôn là hộ đáp ứng một trong hai tiêu chí sau: Có thu nhập bình quân đầu người/tháng từ đủ 700.000 đồng trở xuống; Có thu nhập bình quân đầu người/tháng trên 700.000 đồng và thiếu hụt từ 03 chỉ số đo lường mức độ thiếu hụt tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản trở lên. Hộ nghèo khu vực thành thị là hộ đáp ứng một trong hai tiêu chí sau: Có thu nhập bình quân đầu người/tháng từ đủ 900.000 đồng trở xuống; Có thu nhập bình quân đầu người/tháng trên 900.000 đồng và thiếu hụt từ 03 chỉ số đo lường mức độ thiếu hụt tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản trở lên. Hộ cận nghèo khu vực nông thôn là hộ có thu nhập bình quân đầu người/tháng trên 700.000 đồng và thiếu hụt dưới 03 chỉ số đo lường mức độ thiếu hụt tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản. Hộ cận nghèo khu vực thành thị là hộ có thu nhập bình quân đầu người/tháng trên 900.000 đồng và thiếu hụt dưới 03 chỉ số đo lường mức độ thiếu hụt tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản.
Hộ có mức sống trung bình ở khu vực nông thôn là hộ có thu nhập bình quân đầu người/tháng trên 1. Hộ có mức sống trung bình ở khu vực thành thị là hộ có thu nhập bình quân đầu người/tháng trên 1.1: Bảng các chỉ số đo lƣờng mức độ thiếu hụt các dịch vụ xã hội cơ bản CHIỀU CHỈ SỐ NGƢỠNG THIẾU HỤT NGHÈO ĐO LƢỜNG Hộ gia đình có ít nhất 1 thành viên đủ 15 tuổi 1. Trình độ giáo sinh từ năm 1986 trở lại không tốt nghiệp trung 1)Giáo dục dục của người lớn học cơ sở và hiện không đi học 1. Tình trạng đi học Hộ gia đình có ít nhất 1 trẻ em trong độ tuổi đi của trẻ em học (5-dưới 15 tuổi) hiện không đi học Hộ gia đình có người bị ốm đau nhưng không đi khám chữa bệnh(ốm đau được xác định là bị 2.
Tiếp cận các bệnh/chấn thương nặng đến mức phải nằm một dịch vụ y tế chỗ và phải có người chăm sóc tại giường hoặc 2)Y tế nghỉ việc/học không tham gia được các hoạt động bình thường) Hộ gia đình có ít nhất 1 thành viên từ 6 tuổi trở 2. Bảo hiểm y tế lên hiện tại không có bảo hiểm y tế Hộ gia đình đang ở trong nhà thiếu kiên cố hoặc 3.