CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ ÁN QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ GIẢM NGHÈO 1. Khái quát về quản lý nhà nước về giảm nghèo 1. Các khái niệm cơ bản về quản lý nhà nước về giảm nghèo 1. Khái niệm nghèo và chuẩn nghèo “Nghèo là tình trạng thiếu thốn ở nhiều phương tiện, đó là thu nhập hạn chế, hoặc thiếu cơ hội tạo thu nhập, thiếu tài sản để bảo đảm tiêu dùng ở mức độ tối thiểu” [11].
Hay có thể nói, nghèo là tình trạng thiếu hụt những điều kiện cần thiết để đảm bảo mức sống tối thiểu của một cá nhân hay một cộng đồng dân cư. Sự thiếu hụt ở đây chính là sự thiếu thốn về thức ăn, nước uống, thiếu ăn bệnh tật, quần áo, giáo dục, chăm sóc sức khỏe, tử vong; học vấn thấp, cung cấp thông tin, quan hệ cộng đồng, thất nghiệp, thiếu việc làm, thu nhập thấp; tệ nạn xã hội… Trong xã hội phát triển, sự thiếu hụt còn kể đến cả sự tự do về tôn giáo, tín ngưỡng. “Chuẩn nghèo là một ngưỡng tượng trưng mà công dân ở dưới mức này không có quyền truy cập vào các nguồn lực kinh tế cần thiết cho sự thỏa mãn các nhu cầu cơ bản” [12]. Hay cụ thể hơn, chuẩn nghèo là mức chi tiêu (hoặc thu nhập) bình quân được dùng làm tiêu chuẩn xác định hộ nghèo hoặc người nghèo.
Những hộ hoặc người có chi tiêu (hoặc thu nhập) bình quân thấp hơn chuẩn nghèo được coi là hộ nghèo hoặc người nghèo. Tại Việt Nam, Bộ LĐTBXH (trước năm 2006) và Thủ tướng Chính phủ (từ năm 2006) ban hành chuẩn hộ nghèo ở Việt Nam theo từng giai đoạn, thường là 05 năm. Chuẩn nghèo Việt Nam qua các giai đoạn được quy định cụ thể như sau: Bảng 1. Chuẩn hộ nghèo tại Việt Nam theo từng giai đoạn từ 2006 - 2025 Đơn vị tính: đồng/người/tháng Giai đoạn Khu vực nông thôn Khu vực thành thị 2006 - 20101 < 200.000 “ 1 Quyết định số 170/2005/QĐ-TTg ngày 08/7/2005.
2 Quyết định số 09/2011/QĐ-TTg ngày 03/01/2011 về việc ban hành chuẩn hộ nghèo, hộ cận nghèo. 7 Giai đoạn Khu vực nông thôn Khu vực thành thị 2016 - 20213 =<700.000 Nguồn: Tác giả tổng hợp, 2024. Từ năm 2016, Việt Nam tiếp cận chuẩn nghèo theo hướng tiếp cận đa chiều, ngoài tiêu chí về thu nhập nêu trên thì chuẩn nghèo được xác định theo độ thiếu hụt các dịch vụ xã hội cơ bản, được đo lường bằng các chỉ số. Việt Nam hiện nay áp dụng chuẩn nghèo theo Nghị định số 07/2021/NĐ-CP ngày 27/01/2021 của Chính phủ, theo đó 06 dịch vụ xã hội cơ bản và 12 chỉ số đo lường mức độ thiếu hụt được thể hiện tại bảng Phụ lục 03.
Chuẩn nghèo từ năm 2022 - 20255 ở nước ta được thể hiện cụ thể trong bảng sau: “ Bảng 1. Chuẩn hộ nghèo, cận nghèo tại Việt Nam giai đoạn 2022 - 2025 Tiêu chí Nông thôn Thành thị Thu nhập bình quân từ 1.000 Thu nhập bình quân từ 2.000 Chuẩn đồng/người/tháng trở xuống. đồng/người/tháng trở xuống. hộ nghèo Thiếu hụt từ 03 đến 12 chỉ số mức độ thiếu hụt dịch vụ xã hội cơ bản.
Chuẩn Thu nhập bình quân từ 1.000 Thu nhập bình quân từ 2.000 hộ cận đồng/người/tháng trở xuống. đồng/người/tháng trở xuống. nghèo Thiếu hụt từ 01 đến 02 chỉ số mức độ thiếu hụt dịch vụ xã hội cơ bản. Nguồn: Tác giả tổng hợp, 2024.
” Một số địa phương quy định chuẩn nghèo đặc thù tại địa phương mình. Tại Đà Nẵng, chuẩn nghèo thành phố được quy định theo các giai đoạn, tuy nhiên để phù hợp với tình hình KT - XH, thành phố Đà Nẵng đã thông qua nâng chuẩn nghèo của địa phương qua các năm. Hiện nay, chuẩn nghèo áp dụng tại thành phố Đà Nẵng được 3 Quyết định số 59/2015/QĐ-TTg ngày 19/11/2015 về việc ban hành chuẩn nghèo tiếp cận đa chiều áp dụng cho giai đoạn 2016 - 2020. 4 Nghị định số 07/2021/NĐ-CP ngày 27/01/2021 quy định chuẩn nghèo đa chiều giai đoạn 2021 - 2025.
” 5 Nghị định số 07/2021/NĐ-CP ngày 27/01/2021 quy định chuẩn nghèo đa chiều giai đoạn 2021 - 2025. “ 8 quy định tại Nghị quyết số 76/2021/NQ-HĐND ngày 17/12/2021 của Hội đồng nhân dân (HĐND) thành phố Đà Nẵng, cụ thể: “Bảng 1. Chuẩn nghèo tại thành phố Đà Nẵng giai đoạn 2022 - 20256 Tiêu chí Nông thôn Thành thị Thu nhập bình quân từ 2.000 Thu nhập bình quân từ 2.000 Chuẩn đồng/người/tháng trở xuống. đồng/người/tháng trở xuống hộ nghèo Thiếu hụt từ 03 đến 12 chỉ số mức độ thiếu hụt dịch vụ xã hội cơ bản.
Chuẩn Thu nhập bình quân từ 2.000 Thu nhập bình quân từ 2.000 hộ cận đồng/người/tháng trở xuống. đồng/người/tháng trở xuống nghèo Thiếu hụt từ 01 đến 02 chỉ số mức độ thiếu hụt dịch vụ xã hội cơ bản. Nguồn: Tác giả tổng hợp, 2024. ” Như vậy, chuẩn nghèo là tiêu chí, thước đo sử dụng để đo lường chuẩn nghèo tại mỗi quốc gia, mỗi khu vực và mỗi giai đoạn là khác nhau.
Đây là cơ sở dùng để xác định đối tượng thực hiện chính sách giảm nghèo, ASXH và hoạch định các chính sách KT - XH. Khái niệm giảm nghèo và giảm nghèo bền vững Trong quá trình phát triển luôn luôn có một bộ phận dân cư vì nhiều lý do mà có mức sống cao hơn một hoặc một số nhóm dân cư khác, làm cho nhóm dân cư sau luôn ở vị thế nghèo hơn hay thấp hơn. Giảm nghèo là tổng thể những biện pháp mà nhà nước và xã hội thực hiện nhằm nâng cao mức sống của những người thuộc diện nghèo, đảm bảo họ có thu nhập đáp ứng được những nhu cầu tối thiểu cần thiết và có khả năng tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản, tùy thuộc vào chuẩn nghèo của mỗi giai đoạn và mỗi khu vực. Giảm nghèo bền vững là lấy tính bền vững là một tiêu chí về sự chắc chắn để đánh giá hiệu quả giảm nghèo.
Mục đích của giảm nghèo bền vững giai đoạn 2021 - 2025 của nước ta là “thực hiện giảm nghèo đa chiều, bao trùm, bền vững, hạn chế tái 6 Theo Nghị quyết số 76/2021/NQ-HĐND ngày 17/12/2021 của Hội đồng nhân dân thành phố Đà Nẵng quy định chuẩn nghèo đa chiều trên địa bàn thành phố Đà Nẵng giai đoạn 2020 - 2025. ” 9 nghèo và phát sinh nghèo; hỗ trợ người nghèo, hộ nghèo vượt lên mức sống tối thiểu, tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản theo chuẩn nghèo đa chiều quốc gia, nâng cao chất lượng cuộc sống. Khái niệm quản lý nhà nước và quản lý nhà nước về giảm nghèo Theo Giáo trình Lý luận Quản lý hành chính nhà nước của Học viện Hành chính, (2010): “Quản lý nhà nước là một dạng quản lý xã hội đặc biệt, mang tính quyền lực nhà nước và sử dụng pháp luật nhà nước để điều chỉnh hành vi hoạt động của con người trên tất cả các mặt của đời sống xã hội do các cơ quan trong bộ máy nhà nước thực hiện, nhằm thoả mãn nhu cầu của con người, duy trì sự ổn định và phát triển của xã hội” [9]. Chủ thể QLNN là cơ quan hoặc cá nhân có thẩm quyền trong bộ máy của nhà nước.
QLNN về giảm nghèo là quá trình nhà nước sử dụng quyền lực của mình đưa ra các chính sách, chủ trương, biện pháp nhằm nâng cao đời sống cho người dân, làm cho họ có thu nhập cao hơn, đáp ứng những nhu cầu tối thiểu và có khả năng tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản. Trong QLNN về giảm nghèo, Nhà nước sử dụng hệ thống các công cụ cần thiết để thực hiện chức năng quản lý của mình như công cụ định hướng (kế hoạch, chương trình), công cụ kinh tế, tiền tệ (đầu tư, chi tiêu ngân sách, tín dụng…), công cụ pháp lý (hệ thống pháp luật, các văn bản pháp quy…), công cụ tổ chức và giáo dục… Nhà nước cũng sử dụng một số phương pháp quản lý như thuyết phục, giáo dục… để thực hiện việc QLNN về giảm nghèo. Vai trò của đề án quản lý nhà nước về giảm nghèo Việc xây dựng đề án QLNN về giảm nghèo góp phần quan trọng giúp định hướng, điều tiết, hỗ trợ, phối hợp và giám sát quá trình thực hiện giảm nghèo, góp phần đảm bảo ASXH lâu dài và bền vững, góp phần làm giảm gánh nặng cho hệ thống ASXH thông qua việc giảm bớt các đối tượng cần trợ cấp. - Vai trò định hướng, điều tiết: QLNN về giảm nghèo sẽ tạo ra khuôn khổ pháp lý, xây dựng và ban hành các văn bản chỉ đạo, điều hành trong thực hiện giảm nghèo 7 Quyết định số 90/QĐ-TTg ngày 18/01/2022 của Thủ tướng Chính phủ về phê duyệt Chương trình mục tiêu “ quốc gia giảm nghèo bền vững giai đoạn 2021 - 2025.
” 10 một cách có hệ thống, có kế hoạch. Thông qua các chương trình, kế hoạch, văn bản về giảm nghèo được ban hành sẽ tạo tiền đề, định hướng thực hiện các hoạt động trong giảm nghèo theo đúng mục tiêu đã đề ra. Ngoài ra, xây dựng đề án QLNN về giảm nghèo sẽ tạo nên sự thống nhất trong hành động, chủ trương, có những chính sách phù hợp với tình hình thực tế của địa phương. Bên cạnh việc ban hành những chương trình, kế hoạch, chính sách về giảm nghèo, nhà nước sẽ điều tiết các hoạt động trong công tác giảm nghèo để việc thực hiện giảm nghèo được đồng bộ, hiệu quả.
Vai trò điều tiết thể hiện ở việc thông qua các giải pháp của đề án, các cơ quan quyền lực nhà nước sẽ thực hiện điều chỉnh các chính sách, cách thức và giải pháp thực hiện giảm nghèo cho phù hợp, tăng cường các biện pháp đặc thù hay cân đối nguồn tài chính thực hiện giảm nghèo ở từng vùng, với từng nội dung giải pháp. - Vai trò hỗ trợ: Nhà nước thông qua quyền lực và các nguồn lực của mình sẽ hỗ trợ, tạo điều kiện để công tác giảm nghèo được thực hiện trong điều kiện tốt nhất, đạt hiệu quả cao nhất. Vai trò hỗ trợ thể hiện ở việc thông qua đề án với các giải pháp và tổ chức thực hiện cụ thể, nhà nước đầu tư về cơ sở hạ tầng, giao thông giúp kết nối các địa phương và tăng cường giao thương; đầu tư và nâng cấp hệ thống y tế, hỗ trợ chi phí y tế và BHYT, hỗ trợ về giáo dục nhằm đảm bảo người dân tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản; đồng thời thu hút đầu tư, tạo cơ sở pháp lý và các tiền đề để địa phương nâng cao khả năng thu hút đầu tư. Như vậy, nhà nước với tư cách là chủ thể quản lý có vai trò hỗ trợ nhằm thúc đẩy quá trình phát triển KT- XH của địa phương nói chung và giảm nghèo nói riêng.