CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LÝ CỦA VIỆC XÂY DỰNG ĐỀ ÁN QUẢN LÝ GIẢM NGHÈO TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN 1. Các khái niệm c bản iên quan đến quản lý giảm nghèo 1. Nghèo và nghèo đa chiều Theo Liên hợp quốc (UN): “Nghèo là thiếu năng lực tối thiểu để tham gia hiệu quả vào các hoạt động xã hội. Nghèo có nghĩa là không có đủ ăn, đủ mặc, không được đi học, không được đi khám, không có đất đai để trồng trọt hoặc không có nghề nghiệp để nuôi sống bản thân, không được tiếp cận tín dụng.
Nghèo cũng có nghĩa là không an toàn, không có quyền, và bị loại trừ của các cá nhân, hộ gia đình và cộng đồng. Nghèo có nghĩa là dễ bị bạo hành, phải sống ngoài lề xã hội hoặc trong các điều kiện rủi ro, không được tiếp cận nước sạch và công trình vệ sinh an toàn” [7]. Tại hội nghị về chống nghèo đói do Uỷ ban kinh tế xã hội khu vực Châu Á - Thái Bình Dương (ESCAP) tổ chức tại Thái Lan năm 1993, các quốc gia trong khu vực đã thống nhất cao cho rằng: “Nghèo đói là tình trạng một bộ phận dân cư không có khả năng thoả mãn những nhu cầu cơ bản của con người mà những nhu cầu ấy phụ thuộc vào trình độ phát triển kinh tế - xã hội, phong tục tập quán của từng vùng và những phong tục ấy được xã hội thừa nhận” [1]. Tại hội nghị thượng đỉnh thế giới về phát triển xã hội tổ chức tại Copenhagen, Đan Mạch năm 1995 đã đưa ra một định nghĩa cụ thể hơn về nghèo như sau: “Người nghèo là tất cả những ai mà thu nhập thấp hơn dưới 1 đô la (USD) mỗi ngày cho mỗi người, số tiền được coi như đủ mua những sản phẩm thiết yếu để tồn tại” [7].
Theo Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội (2015), nghèo đói là “tình trạng của một bộ phận dân cư chỉ có khả năng thoả mãn một phần các nhu cầu cơ bản của con người và có mức sống ngang bằng hoặc dưới mức sống tối thiểu của cộng đồng xét trên mọi phương diện” [3]. “ Tháng 6/2008, tuyên bố của Liên hợp quốc được lãnh đạo của tất cả các tổ chức trong Liên hiệp quốc thông qua đã nêu quy ước rằng nghèo là thiếu năng lực 7 tối thiểu để tham gia hiệu quả vào các hoạt động xã hội. Nghèo có nghĩa là không có đủ ăn, đủ mặc, không được đi học, không được đi khám bệnh, không có đất đai để trồng trọt hoặc không có nghề nghiệp để nuôi sống bản thân, không được tiếp cận tín dụng [9]. Nghèo cũng có nghĩa sự không an toàn, không có quyền, và bị loại trừ của các cá nhân, hộ gia đình và cộng đồng.
Nghèo có nghĩa dễ bị bạo hành, phải sống ngoài lề xã hội hoặc trong các điều kiện rủi ro, không được tiếp cận nước sạch và công trình vệ sinh an toàn. Như vậy, nghèo có thể hiểu là sự thiếu hụt/không được thỏa mãn các nhu cầu cơ bản của con người. ” Như vậy, nghèo là tình trạng một bộ phận dân cư chỉ có những điều kiện thoả mãn những nhu cầu tối thiểu và cơ bản nhất trong cuộc sống và có mức sống thấp hơn mức sống của cộng đồng xét trên mọi phương diện. Khái niệm nghèo đa chiều được đề cập, tại kỳ họp thứ 7, Quốc hội khóa 13, Nghị quyết số 76/2014/QH13 về việc đẩy mạnh thực hiện mục tiêu giảm nghèo đến năm 2020, trong đó nêu rõ: “Xây dựng chuẩn nghèo mới theo phương pháp tiếp cận đa chiều nhằm bảo đảm mức sống tối thiểu và đáp ứng các dịch vụ xã hội cơ bản”.
Giảm nghèo Ở Việt Nam, giảm nghèo được quán triệt trong các chủ trương, đường lối của Đảng. Đại hội lần thứ XI của Đảng đã đề ra định hướng cơ bản: “Nâng cao thu nhập và chất lượng cuộc sống của nhân dân. Tạo cơ hội bình đẳng tiếp cận các nguồn lực phát triển và hưởng thụ các dịch vụ cơ bản, các phúc lợi xã hội. Có chính sách và các giải pháp phù hợp nhằm hạn chế phân hoá giàu nghèo, giảm chênh lệch về mức sống giữa nông thôn với đô thị.
Khuyến khích làm giàu hợp pháp đi đôi với xoá nghèo bền vững; giảm dần tình trạng chênh lệch giàu nghèo giữa các vùng, miền, các tầng lớp dân cư”. “ Giảm nghèo là một phạm trù lịch sử mang tính tương đối. Nghèo luôn hiện hữu trong xã hội do sự khác biệt về năng lực, thể chất, thu nhập, địa vị xã hội,… giữa các cá nhân với nhau. Không thể xóa nghèo mà chỉ có thể giảm nghèo.
Giảm nghèo là quá trình chuyển một bộ phận dân cư nghèo lên mức sống cao hơn, thoát 8 khỏi tình trạng nghèo. Do đó, giảm nghèo có tác động to lớn đến sự phát triển kinh tế - xã hội [10]. Có thể hiểu giảm nghèo là tổng thể các biện pháp, chính sách của Nhà nước và xã hội hay là của chính những đối tượng thuộc diện nghèo, nhằm tạo điều kiện để họ có thể tăng thu nhập, thoát khỏi tình trạng thu nhập không đáp ứng được những nhu cầu tối thiểu và thỏa mãn được các nhu cầu cơ bản khác của con người: y tế, giáo dục và điều kiện sống trên cơ sở chuẩn nghèo được quy định theo từng địa phương, từng khu vực và quốc gia. Quản lý nhà nước về giảm nghèo Quản lý nhà nước là một dạng quản lý xã hội đặc biệt, mang tính quyền lực nhà nước và sử dụng pháp luật và chính sách để điều chỉnh hành vi của cá nhân, tổ chức trên tất cả các mặt của đời sống xã hội do các cơ quan trong bộ máy nhà nước thực hiện nhằm phục vụ nhân dân, duy trì sự ổn định và phát triển của xã hội [1].
Theo nghĩa rộng, quản lý nhà nước là toàn bộ hoạt động của bộ máy nhà nước, từ hoạt động lập pháp, hành pháp đến tư pháp. Theo nghĩa hẹp, quản lý nhà nước chỉ bao gồm hoạt động hành pháp. Quản lý nhà nước về giảm nghèo là sự tác động của nhà nước bằng các cơ chế, chính sách của tổ chức bộ máy nhằm quản lý, điều hành và tổ chức thực hiện giảm nghèo, từng bước nâng cao đời sống xã hội, ổn định và phát triển đất nước, hạn chế tối đa nguy cơ tài nghèo [4]. Quản lý nhà nước về giảm nghèo là hoạt động có ý thức do Nhà nước thực hiện thông qua các công cụ (cơ chế, chính sách, pháp luật, hệ thống tổ chức, nguồn lực…) và các biện pháp hành chính (thanh tra, kiểm tra, giám sát…) tác động vào người nghèo với mục tiêu xóa đói giảm nghèo, đảm bảo công bằng, an sinh xã hội trong từng giai đoạn nhất định [8].
Như vậy, QLNN về giảm nghèo là sự tác động có tổ chức và bằng quyền lực nhà nước tới các hoạt động giảm nghèo, như hoạt động ban hành các văn bản quy phạm pháp luật về giảm nghèo; hoạch định và tổ chức thực hiện các chính sách, chương trình, kế hoạch, dự án giảm nghèo; hoạt động thanh tra, kiểm tra và giám sát việc thực hiện các chính sách, chương trình, dự án giảm nghèo; tổng kết, đánh 9 giá kết quả thực hiện. Các nội dung quản lý giảm nghèo trên địa bàn huyện 1. Xây dựng chương trình, kế hoạch giảm nghèo “ Xây dựng các chương trình, kế hoạch giảm nghèo là bước đầu tiên, giúp định hướng các hoạt động giảm nghèo. Xây dựng các chương trình và kế hoạch giảm nghèo là việc Nhà nước tìm cách thức để các chính sách về giảm nghèo của chính quyền trung ương và chính quyền cấp tỉnh tiếp cận đến người nghèo một cách hiệu quả nhất và phù hợp với tình hình cụ thể mỗi địa phương [9].
Chương trình, kế hoạch về giảm nghèo là một trong những công cụ quản lý của Nhà nước về giảm nghèo. ế hoạch chỉ rõ mục tiêu, hướng đi đúng đắn trong việc triển khai thực hiện công tác giảm nghèo, do đó việc xây dựng kế hoạch một cách khoa học và tính khả thi có ý nghĩa rất quan trọng đối với sự thành công của công tác giảm nghèo [5]. Tiêu chí đánh giá: Chương trình, kế hoạch giảm nghèo phù hợp có định hướng phù hợp với đường lối phát triển của huyện; Các mục tiêu của Chương trình, kế hoạch giảm nghèo phù hợp với điều kiện của huyện. Tuyên truyền, phổ biến chế độ, chính sách, chương trình, kế hoạch giảm nghèo “ Công tác tuyên truyền, phổ biến chế độ, chính sách, chương trình, kế hoạch giảm nghèo là tập hợp các cách thức giúp đưa các chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của nhà nước về giảm nghèo đến gần với người dân để nâng cao nhận thức của họ.
Để việc tuyên truyền, phổ biến hiệu quả, phải xây dựng kế hoạch tuyên truyền, trong đó cần có sự phối hợp của cả hệ thống chính trị từ cấp tỉnh đến cấp xã và có sự giám sát của cộng đồng. Nội dung tuyên truyền gồm các chính sách, pháp luật, chương trình, kế hoạch về giảm nghèo; hiệu quả của công tác giảm nghèo; tầm quan trọng của các ban ngành phối hợp; các xã, thôn, bản điển hình, tiên tiến trong công tác giảm nghèo; các lợi ích mà giảm nghèo mang lại,… [7]. 10 Để tăng hiệu quả tuyên truyền, phải thường xuyên đổi mới các phương thức, hình thức, nội dung tuyên truyền, phổ biến chính sách về giảm nghèo và đảm bảo với từng thời điểm cụ thể. Một số hình thức tuyên truyền thường được sử dụng như tổ chức hội nghị, hội thảo, tập huấn, tọa đàm, đối thoại trực tiếp; phối hợp với các cơ quan thông tấn, báo chí triển khai hoạt động tuyên truyền thông qua chuyên trang, chuyên mục, chuyên đề và các bài viết, phóng sự; tổ chức tuyên truyền trực quan thông qua các ấn phẩm tuyên truyền: pano, áp phích, tờ rơi, tranh cổ động… [9].
Công tác tuyên truyền, phổ biến các chính sách về giảm nghèo phải được thực hiện thường xuyên, liên tục để gia tăng sự chú ý của người dân. ” Tiêu chí đánh giá: Tính đa dạng, phong phú của nội dung, hình thức tuyên truyền; mức độ thường xuyên của công tác tuyên truyền; tính kịp thời của công tác tuyên truyền. Tổ chức ộ má uản lý nhà nước về giảm nghèo “ Tổ chức bộ máy QLNN về giảm nghèo phải gắn với mục tiêu, phương hướng hoạt động của hệ thống công tác giảm nghèo. Công tác giảm nghèo có thành công hay không phụ thuộc rất nhiều vào mức độ, khả năng tổ chức đảm nhiệm công tác giảm nghèo.