Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH GIẢM NGHÈO BỀN VỮNG Ở VIỆT NAM 1. Các khái niệm liên quan đến giảm nghèo bền vững 1. Các Khái niệm “Chính sách công” là khái niệm được nhiều nhà khoa học tiếp cận với nhiều góc độ, cách nhìn khác nhau như: Khoa học chính sách ra đời có phần chậm, và đi sau các môn khoa học khác; Harold Lasswell là người đầu tiên và cùng các học giả khác trên thế giới đã nghiên cứu. Từ đó khoa học chính sách đã xác định vị thế của mình và thay các nghiên cứu chính trị truyền thống, bằng với sự phát triển đã xuất hiện nhiều khái niệm về chính sách công.
Việc tiếp cận có khác nhau, nhưng nhìn chung khái niệm chính sách công cũng được kết luận là do của Nhà nước ban hành nhằm phục vụ cho lợi ích chung của người dân. theo William Jenkins chính sách công là “Một tập hợp các quyết định có liên quan với nhau được ban hành bởi một nhà hoạt động chính trị hoặc một nhóm các nhà hoạt động chính trị liên quan đến lựa chọn các mục tiêu và các phương tiện để đạt mục tiêu trong một tình huống cụ thể thuộc phạm vi thẩm quyền của họ”; James Anderson cho là chính sách như “Một đường lối hành động có mục đích để giải quyết một vấn đề phát sinh hoặc vấn đề quan tâm”. Với các định nghĩa trên, đều cho ta thấy ý nghĩa của cụm từ chính sách công và cũng chỉ ra việc thực hiện, nghiên cứu chính sách công là công việc khó khăn, khó hoàn thành một cách dễ dàng qua một vài bài nghiên cứu hoặc việc ban hành quyết định của nhà nước qua ban hành các văn bản luật; cũng phải thừa nhận rằng các văn bản được các cơ quan quản lý nhà nước ban hành lại là điều kiện để các nhà làm chính sách xây dựng các mục tiêu và biện pháp 9 liên quan đến chính sách công. Từ những nhận xét, phân tích và nhận định về chính sách công, có thể định nghĩa “Chính sách công là những quyết định của chủ thể được trao quyền lực công nhằm giải quyết những vấn đề vì lợi ích chung của cộng đồng”.
Một số khái niệm nghèo: “Nghèo” là sự thiếu hụt cơ hội để có thể sống một cuộc sống tương ứng với các tiêu chuẩn tối thiểu nhất. Theo tổ chức Y tế thế giới định nghĩa nghèo theo thu nhập; theo đó một người là nghèo khi thu nhập hàng năm ít hơn một nữa thu nhập bình quân trên đầu người hàng năm của quốc gia. - Với các nước trên thế giới: Tại Hội nghị thảo luận về chống đói nghèo ở khu vực Đông nam á được tổ chức tại Bangkok, Thái Lan đã có nhận định như sau: "Nghèo là một số dân cư không được hưởng đầy đủ những nhu cầu thiết yếu cơ bản của con người, mà những nhu cầu này được người dân và xã hội thừa nhận còn phụ thuộc vào sự phát triển kinh tế, xã hội, văn hóa của từng vùng miền, từng địa phương”. Trong cuộc họp hội nghị thượng đỉnh của thế giới đã thảo luận về phát triển xã hội đã đưa ra nhận định: "Người nghèo là những người mà thu nhập thấp hơn hoặc bằng 1 USD/ngày/người, thu nhập này đủ để mua những nhu yếu phẩm cần thiết để giúp cuộc sống ổn định." Trong quá trình thực hiện “Xóa đói giảm nghèo ở Việt Nam” ở giai đoạn đầu, có một số tổ chức quốc tế thực hiện việc nghiên cứu và đưa ra nhận định: "Nghèo là tình trạng một bộ phận người dân không có khả năng trong 10 việc tham gia vào lao động, đời sống quốc gia, tự tăng thu nhập." - Ở Việt Nam “Nghèo” là những người dân có cuộc sống dưới mức quy định của tiêu chuẩn nghèo của quốc gia.
Nhưng mức nghèo còn phụ thuộc vào tình hình, hoàn cảnh thực tế của từng địa phương, từng giai đoạn phát triển của từng địa phương hay từng vùng miền. Nghèo được phân chia thành nhiều mức: Nghèo, cận nghèo, đặc biệt nghèo, tái nghèo, nghèo đa chiều. Nghèo : Là đời sống người dân thuộc diện nghèo không có khả năng lao động, thiếu các nhu cầu thiết yếu. Cận nghèo: Là đời sống người dân thuộc diện nghèo có mức sống khá hơn hộ nghèo nhưng có mức sống dưới mức sống trung bình của đời sống người dân bình thường.
Nghèo đa chiều: là người dân có mức thu nhập thấp không đủ sống như mức sống của người bình thường và thiếu các chiều xã hội như chỗ ở, y tế, bảo hiểm xã hội, giáo dục, thông tin,. Hiện tại khi xác định nghèo ở quận 10 được căn cứ vào: Một là: Căn cứ vào chuẩn nghèo của Chính phủ do Bộ LĐ-TB&XH công bố. Hai là: căn cứ chuẩn nghèo của Thành phố Hồ Chí Minh quy định theo từng giai đoạn để thực hiện.2 Khái niệm về giảm nghèo Giảm nghèo thường không có khái niệm cụ thể và được người ta cho là những chỉ tiêu, mục tiêu cần hướng đến và hoàn thành chuẩn xác định nghèo; 11 nhưng để hoàn thiện và đạt được thì yêu cầu vai trò của Đảng và Nhà nước cần được quan tâm đến công tác giảm nghèo đó là công tác giảm nghèo bền vững. Có thể hiểu về giảm nghèo như sau: “Giảm nghèo” là làm tăng về sự hiểu biết, nắm bắt, hưởng thụ về các dịch vụ xã hội mà cuộc sống người dân cần thiết, để người dân có sự tự hoàn thiện và hưởng thụ đầy đủ.
Giảm nghèo có nghĩa là làm sao cho đời sống người dân được đảm bảo đầy đủ các yêu cầu thiết yếu, họ tự lao động, tự chủ được cuộc sống của bản thân và gia đình; tăng khả năng tiếp cận, thừa thưởng đẩy đủ các chiều xã hội và đi đến giảm số lượng, tỷ lệ hộ nghèo.3 Khái niệm về giảm nghèo bền vững “Giảm nghèo bền vững” là cải thiện vật chất, đời sống và tinh thần của người nghèo, góp phần thu hẹp khoảng cách, chênh lệch về mức sống, điều kiện sống giữa thành thị và nông thôn. Các cơ quan có thẩm quyền đã ban hành các văn bản hành chính liên quan đến “giảm nghèo bền vững” như sau: Nghị quyết số 15-NQ/TW ngày 01/6/2012, Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương khóa XI về chính sách xã hội giai đoạn 2012-2020 đã đề ra nhiệm vụ bảo đảm an sinh xã hội, chú trọng đến việc làm, bảo hiểm xã hội, trợ giúp xã hội cho những đối tượng có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn, đồng bào dân tộc ít người, đảm bảo mức tối thiểu về thu nhập và một số dịch vụ xã hội cơ bản như khám chữa bệnh, học hành, nhà ở, nước sạch, thông tin, truyền thông. Nghị quyết số 76/2014/QH13 của Quốc hội khóa 13 về việc đẩy mạnh thực hiện mục tiêu giảm nghèo bền vững đến năm 2020, trong đó nêu rõ: xây dựng chuẩn nghèo mới theo phương pháp tiếp cận đa chiều nhằm bảo đảm mức sống tối thiểu và đáp ứng các dịch vụ xã hội cơ bản; và Quyết định số 12 2324/QĐ-TTg ngày 19/12/2014 của Thủ Tướng Chính phủ ban hành kế hoạch hành động triển khai Nghị quyết 76/2014/QH13 của Quốc hội. Quyết định số 1614/QĐ-TTg ngày 15/9/2015 của Thủ Tướng Chính phủ phê duyệt đề án tổng thể “Chuyển đổi phương pháp tiếp cận đo lường nghèo từ đơn chiều sang đa chiều áp dụng cho giai đoạn 2016-2020”; Quyết định số 59/2015/QĐ-TTg ngày 19/11/2015 của Thủ Tướng Chính phủ ban hành chuẩn nghèo tiếp cận đa chiều áp dụng cho giai đoạn 2016-2020 Nghị quyết số 15/2015/NQ-HĐND ngày 9/12/2015 của Hội đồng nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh về chương trình giảm nghèo bền vững Thành phố giai đoạn 2016-2020; Quyết định số 58/QĐ-UBND ngày 31/12/2015 của UBND TP.HCM ban hành chuẩn hộ nghèo, cận nghèo Thành phố áp dụng giai đoạn 2016-2020.
“Giảm nghèo bền vững” cũng có thể hiểu rằng: giảm nghèo và phát triển bền vững, cho cần câu không cho con cá như trước đây, nhằm tạo cơ hội cho người nghèo tự vươn lên và thoát nghèo, ổn định cuộc sống và tăng thu nhập,tránh tình trạng rơi vào tái nghèo. Việc giảm nghèo là điều kiện tiên quyết, cần thiết để duy trì được sự phát triển mang tính lâu dài trên các lĩnh vực. Từ đây, có thể thấy được “giảm nghèo bền vững” là cả một quá trình phấn đấu giảm nghèo nhằm cải thiện được đời sống, thỏa mãn các nhu cầu thiết yếu trong cuộc sống của người dân, không có nguy cơ tái nghèo trong hướng tới.4 Các tiêu chí đánh giá trong giảm nghèo bền vững Trong các tiêu chí đánh giá giảm nghèo có bền vững hay không thì chúng ta phải cần quan tâm đến nhiều yếu tố khác nhau, trong đó quan tâm nhất là mức thu nhập, các chiều dịch vụ xã hội cơ bản của từng hộ: Về các dịch vụ xã hội cơ bản: các hộ nghèo, hộ cận nghèo thì mức độ 13 tiếp cận được các dịch vụ xã hội cơ bản như dịch vụ y tế, giáo dục, bảo hiểm xã hội, nước sạch, thông tinh, truyền thông phải đảm bảo nhu cầu của từng hộ nghèo, hộ cận nghèo; việc có được tiếp cận với các dịch vụ xã hội là có vai trò hết sức quan trọng trong giảm nghèo bền vững, nhất là dịch vụ y tế, giáo dục, bảo hiểm xã hội, nước sạch,. của đối tượng nghèo; nếu hộ nghèo, hộ cận nghèo được tiếp cận các dịch vụ này một cách kịp thời, đầy đủ thì họ được trang bị kiến thức, kỹ năng, sức khỏe để tự vươn lên thoát nghèo trong cuộc sống, đảm bảo được tính bền vững lâu dài.
Về mức thu nhập: đây là vấn đề cốt lõi sẽ quyết định việc có thoát nghèo hay không? Nếu mức thu nhập đảm bảo thì kéo theo các dịch vụ xã hội cũng được nâng lên, khi thu nhập ổn định thì không phải cuộc sống hàng ngày, lúc đó họ quan tâm các vấn đề khác trong xã hội. Không để nguy cơ tái nghèo: từ phân tích ở trên thì cho ta thấy rằng nếu ổn định về mức thu nhập và đảm bảo được các chiều dịch vụ xã hội thì nguy cơ tái nghèo khó xảy ra, kể cả khi có thiên tai, dịch bệnh xảy ra cũng khó tác động đến việc tái nghèo,… Trong quá trình thực hiện chính sách giảm nghèo bền vũng, cũng không ít hộ gia đình đã có lúc tái nghèo khi trong cuộc sống có những bất ngờ xảy ra đã đưa họ trợ lại hộ nghèo, hộ cận nghèo.