Mở đầu: Nghiên cứu khái quát mô ̣t số nô ̣i dung đầ u tiên của đề tài bao gồ m vấn đề nghiên cứu, câu hỏi nghiên cứu, mu ̣c tiêu nghiên cứu, đối tượng và phạm vi nghiên cứu, phương pháp và ý nghĩa nghiên cứu. Chương 2: Cơ sở lý thuyết và các nghiên cứu trước: Trình bày sơ lược cơ sở lý thuyết về tình tra ̣ng nghèo, chương trình tín dụng hộ nghèo tác động đến thoát nghèo, những nghiên cứu liên quan thoát nghèo từ chương trình tín dụng. Chương 3: Phương pháp và mô hình nghiên cứu: Chương này giới thiệu về sơ đồ nghiên cứu, cách thức chọn mẫu, cỡ mẫu, phương pháp thu thập số liệu, nghiên cứu định tính và nghiên cứu định lượng, thiết kế mô hình, diễn giải các biến độc lập. Chương 4: Phân tích kết quả nghiên cứu: Chương này phân tích kết quả nghiên cứu, kiểm định các biến quan sát, kiểm định sự phù hợp của mô hình, kiểm định ý nghĩa thống kê các biến và đặc biệt là phân tích hồi quy và kiểm định liên quan đến mô hình nghiên cứu.
Chương 5: Kết luận và kiến nghị: Chương này nêu lên những kết luận tổng quát của đề tài, đồng thời đưa ra những kiến nghị nhằm thực hiện có hiệu quả vốn vay từ tín dụng hộ nghèo và quá trình tổ chức thực hiện chương trình tín dụng hộ nghèo tại địa phương và nêu những hạn chế của đề tài. 5 CHƯƠNG 2 CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ CÁC NGHIÊN CỨU TRƯỚC Trong Chương này trình bày sơ lược cơ sở lý thuyết về tin ̀ h tra ̣ng nghèo, tác động của chương trình tín dụng hộ nghèo đến thoát nghèo, những nghiên cứu trước có liên quan đến đề tài 2.1 Nghèo Hầu hết các tiêu chí để xác định nghèo đều dùng mức thu nhập hay chi tiêu để thỏa mãn những nhu cầu cơ bản nhất của con người như: ăn, ở, mặc, y tế, giáo dục, văn hóa, đi lại và giao tiếp xã hội. Sự khác nhau thường là ở chỗ mức độ thỏa mãn cao hay thấp phụ thuộc vào trình độ phát triển kinh tế - xã hội cũng như phong tục tập quán của từng vùng, từng quốc gia. Tại hội nghị Thượng đỉnh thế giới và phát triển xã hội tổ chức tại Copenhagen, Đan Mạch, năm 1995, trích bởi Nguyễn Trọng Hoài (2007), cho rằng: “Người nghèo là tất cả những ai mà thu nhập thấp hơn dưới 1 đô la (USD) một ngày cho mỗi người, số tiền được coi như đủ để mua những sản phẩm thiết yếu để tồn tại.” Ở Việt Nam một khái niệm về nghèo đói thường được sử dụng là khái niệm được đưa ra tại Hội nghị chống đói nghèo khu vực Châu á - Thái Bình Dương do ESCAP tổ chức tại Băng Cốc, Thái Lan tháng 9/1993 và được các quốc gia trong khu vực thống nhất, trích bởi Nguyễn Trọng Hoài (2007), cho rằng: “Nghèo đói là tình trạng một bộ phận dân cư không có khả năng thỏa mãn những nhu cầu cơ bản của con người mà những nhu cầu ấy phụ thuộc vào trình độ phát triển kinh tế - xã hội, phong tục tập quán của từng vùng và những phong tục ấy được xã hội thừa nhận” Như vậy, tất cả những khái niệm về nghèo tuy đa dạng nhưng luôn chứa đựng ba khía cạnh cơ bản và quan trọng: thứ nhất, người nghèo có mức sống thấp hơn mức sống trung bình của cộng đồng dân cư.
Thứ hai, người nghèo không được thụ hưởng những nhu cầu cơ bản ở mức tối thiểu dành cho con người. Thứ ba, người nghèo thiếu cơ hội lựa chọn tham gia vào quá trình phát triển của cộng đồng. Giảm nghèo 6 Giảm nghèo là làm cho bộ phận dân cư nghèo nâng cao mức sống, từng bước thoát khỏi tình trạng nghèo. Điều này được thể hiện ở tỷ lệ phần trăm và số lượng người nghèo giảm xuống.
Hay giảm nghèo là quá trình chuyển bộ phận dân cư nghèo lên mức sống cao hơn. Chính phủ Việt Nam (2011) mục tiêu giảm nghèo là mục tiêu lớn của Đảng và Nhà nước nhằm cải thiện đời sống vật chất và tinh thần của người nghèo, góp phần thu hẹp khoảng cách chênh lệch về mức sống giữa nông thôn và thành thị, giữa các vùng, các dân tộc và các nhóm dân cư; đồng thời thể hiện quyết tâm trong việc thực hiện mục tiêu thiên niên kỷ của Liên hợp quốc mà Việt Nam đã ký kết. Hô ̣ thoát nghèo Theo Bô ̣ lao động, thương binh và xã hội (2014), hô ̣ mới thoát nghèo là hô ̣ nghèo, qua điề u tra, rà soát hàng năm có thu nhâ ̣p cao hơn chuẩ n nghèo theo quy đinh ̣ của pháp luâ ̣t, bao gồ m: Hô ̣ mới thoát nghèo nhưng có mức thu nhâ ̣p thuô ̣c đố i tươ ̣ng hô ̣ câ ̣n nghèo; Hô ̣ mới thoát nghèo có thu nhâ ̣p cao hơn chuẩ n hô ̣ câ ̣n nghèo theo quy đinh ̣ của pháp luâ ̣t. Các trường phái lý thuyết về tín dụng cho người nghèo 2.
Trường phái cổ điển Rất phổ biến trong thời kỳ những năm 60 và nữa đầu thập kỷ 70, do nhà kinh tế học Ranar Nurkse khởi sướng với quan điểm về vòng lẩn quẩn của nghèo đói. Lý thuyết của ông tập trung vào các điểm như sau (Ellis,1992, trích bởi Nguyễn Mạnh Cường, 2015): - Tập trung vào cung cấp tín dụng, đây là điều kiện cần và đủ để tạo ra những cải cách thực sự trong xoá đói giảm nghèo. - Chính sách cho vay lãi suất thấp 2. Trường phái kiềm chế tài chính Ở các nước đang phát triển, cung cấp tín dụng là một trong những mối quan tâm lớn của chính phủ.
Với sự trợ giúp của các nhà tài trợ Chính phủ xác định mục đích hoạt động, chi phối hệ thống tài chính và cung cấp tín dụng có ưu đãi cho đối tượng mục tiêu. Đây được coi như một công cụ chính yếu để quản lý chặc chẽ hệ 7 thống tài chính thông qua các công cụ như khống chế lãi suất, tín dụng theo mục tiêu chỉ định, lãi suất ưu đãi và sự hạn chế về mặt pháp lý đối với tính thể chế của các tổ chức tài chính đã kiềm nén sự tăng trưởng và phát triển của hệ thống tài chính. Tiền lãi thu được rất thấp và đôi khi tiền lãi còn bị giảm do lạm phát đã không khuyến khích được dân chúng gửi tiền tiết kiệm, trần lãi suất cản trở ngân hàng đạt được doanh thu để bù đắp chi phí. Để bù đắp những khoản bị lỗ, các ngân hàng thường phải tăng quy mô tiền cho vay.
Chính vì vậy người nghèo, người thường vay món vay nhỏ bị hạn chế khả năng tiếp cận nguồn vốn do ngân hàng cung cấp (Bravemen và Guasch, 1986, trích bởi Nguyễn Mạnh Cường, 2015) 2. Trường phái thể chế kiểu mới Trường phái này ra đời và phát triển dựa trên những lập luận của trường phái kiềm chế tài chính và thực tiễn giải quyết vấn đề phát triển kinh tế ở hầu hết các nước đang phát triển, quan điểm của trường phái này được phân loại như sau: Thứ nhất: Thị trường tín dụng nông thôn ở hầu hết các nước đang phát triển đều có nét nổi bậc là thông tin không hoàn hảo, thông tin bất cân xứng. Chính vì điều này làm cho việc lựa chọn bất lợi và xói mòn đạo đức trở nên phổ biến ở thị trường tín dụng nông thôn, gây ra các tác động tiêu cực đối với sản xuất nông nghiệp đặc biệt đối với các nước đang phát triển. Vì người nghèo bị vướng vào thông tin bất cân xứng nhiều hơn so với hộ nông dân khá giả và người cho vay.
Vì vậy, đáp ứng về mặt thể chế cho thị trường bị bỏ rơi, giảm chi phí giao dịch là vấn đề chủ chốt và đóng vai trò quan trọng trong hành vi hoạt động kinh tế. Thứ hai: Đề cập đến vấn đề tài sản thế chấp, nông dân luôn vấp phải những khó khăn trong vấn đề tài sản thế chấp khi đi vay, đặc biệt là người nghèo. Trường phái này cho rằng, vấn đề trên có thể được giải quyết bằng “tín chấp” thông qua sự bảo đảm của hợp tác xã và các nhóm nông dân được thành lập chính thức nhằm giúp người nghèo vượt qua tình trạng thiếu vốn. Thứ ba: Quan điểm về thị trường không chính thức.
Từ thực tế cả trường phái cổ điển và kiềm chế tài chính chỉ có thể lý giải một phần thị trường tín dụng không chính thức. Hai trường phái này có vẻ không phù hợp trong việc trình bày một số đặc điểm thực tiễn, trường phái kinh tế thể chế hoá kiểu mới đưa ra một quan điểm tổng 8 hợp. Những học giả xây dựng trường phái này cho rằng tình trạng thông tin không hoàn hảo có thể lý giải tốt hơn, những đặc điểm chung là: - Tỷ lệ lãi suất tiền gửi và tiền vay không chính thức nói chung đều cao hơn tỷ lệ lãi suất ở khu vực chính thức. - Tín dụng không chính thức chủ yếu được dùng vào hoạt động sản xuất - Lãi suất cho vay không chính thức cao không thể là lý giải độc quyền - Lý giải về thị trường tín dụng không chính thức là thị trường cạnh tranh thì không xác đáng hơn là thị trường độc quyền - Trong một số trường hợp, tín dụng không chính thức được phân bổ rất hiệu quả nhưng trong các trường hợp khác thì không (Bravemen và Guasch, 1986, trích bởi Nguyễn Mạnh Cường, 2015) 2.
Lý thuyết về sinh kế Ý tưởng về sinh kế được đề cập tới trong các tác phẩm nghiên cứu của Chamber những năm 1980. Về sau khái niệm này được xuất huyện nhiều hơn trong các nghiênc ứu của F.Ellis, Barrett và Reardon, Morrison, Dorward. Có nhiều cách tiếp cận và định nghĩa khác nhau về sinh kế, tuy nhiên có sự nhất trí rằng khái niệm sinh kế bao hàm nhiều yếu tố ảnh hưởng đến mỗi cá nhân hay hộ gia đình. Về căn bản các hoạt động sinh kế là do mỗi cá nhân hay nông hộ tự quyết định dựa vào năng lực và khả năng của họ, đồng thời chịu sự tác động của các thể chế chính sách và những quan hệ xã hội mà cá nhân hoặc hộ gia đình đã thiết lập trong cộng đồng.
Trong nhiều nghiên cứu của mình, F.